Quy định mới về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy từ ngày
10/4/2025
Chính phủ ban hành Nghị định số quy
định về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy. Nghị định nêu rõ, chứng thư chữ ký
điện tử được phân loại như sau:
+ Chứng thư chữ ký số gốc của tổ chức cung cấp
dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia là chứng thư chữ ký số do tổ chức cung cấp
dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia tự cấp cho mình tương ứng với từng loại
dịch vụ tin cậy.
+ Chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp
dịch vụ tin cậy là chứng thư chữ ký số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực
điện tử quốc gia cấp cho tổ chức cung cấp dịch vụ tin cậy tương ứng với từng
loại dịch vụ tin cậy, bao gồm: chứng thư chữ ký số cho dịch vụ cấp dấu thời
gian, chứng thư chữ ký số cho dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu, chứng thư
chữ ký số cho dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng.
+ Chứng thư chữ ký số công cộng là chứng thư
chữ ký số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cấp cho
thuê bao.
+ Chứng thư chữ ký điện tử chuyên dùng là
chứng thư chữ ký điện tử do cơ quan, tổ chức tạo lập chữ ký điện tử chuyên dùng
cấp.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày
10/4/2025.
Quy định mới về quản
lý xuất, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh
Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2025/NĐ-CP
ngày 24/2/2025. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 12/4/2025.
Trong đó, Nghị định số 31/2025/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung Điều 7 Nghị định số 32/2012/NĐ-CP như sau: Xuất khẩu văn hóa phẩm không
nhằm mục đích kinh doanh: Cá nhân, tổ chức có văn hóa phẩm xuất khẩu đã được
sản xuất, công bố, phổ biến và lưu hành hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam khi
xuất khẩu chỉ làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác...
Phương pháp xác định
Quỹ tiền lương của người lao động và Ban điều hành
Chính phủ ban hành Nghị định số ngày
28/2/205 quy định về quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong
doanh nghiệp nhà nước.
Nghị định quy định Quỹ tiền lương của người
lao động và Ban điều hành được xác định theo các phương pháp sau:
1- Xác định quỹ tiền lương thông qua mức tiền
lương bình quân;
2- Xác định quỹ tiền lương thông qua đơn giá
tiền lương ổn định. Phương pháp này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp đã có thời
gian hoạt động ít nhất bằng thời gian dự kiến áp dụng đơn giá tiền lương ổn
định.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày
15/4/2025.
Sửa quy định về chính
sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm
Chính phủ ban hành Nghị định ngày
3/3/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2020/NĐ-CP ngày
25/9/2020 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi
phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm.
Trong đó, Nghị định 60/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung Điều 9 Nghị định số 116/2020/NĐ-CP về thu hồi kinh phí hỗ trợ.
Cụ thể, hằng năm, căn cứ vào kết quả rèn luyện,
học tập của sinh viên sư phạm, cơ sở đào tạo giáo viên thông báo danh sách sinh
viên sư phạm được hưởng chính sách đang trong thời gian đào tạo nhưng chuyển
sang ngành đào tạo khác, tự thôi học, không hoàn thành chương trình đào tạo
hoặc bị kỷ luật buộc thôi học cho UBND cấp tỉnh nơi sinh viên thường trú hoặc
cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng để thông báo thu hồi kinh phí đã hỗ trợ cho
sinh viên sư phạm.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
thông báo của cơ quan có thẩm quyền, sinh viên thuộc đối tượng bồi hoàn kinh
phí phải có trách nhiệm liên hệ với cơ quan ra thông báo thu hồi kinh phí bồi
hoàn để làm thủ tục bồi hoàn kinh phí hỗ trợ.
Thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn kinh
phí hỗ trợ tối đa là 4 năm, kể từ khi sinh viên sư phạm nhận được thông báo bồi
hoàn kinh phí.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày
20/4/2025.
Quỹ phòng, chống thiên
tai trung ương do Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập và quản lý
Chính phủ ban hành Nghị định số ngày
5/3/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2021/NĐ-CP ngày
1/8/2021 của Chính phủ về thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai.
Theo quy định mới tại Nghị định số 63/2025/NĐ-CP,
Quỹ phòng, chống thiên tai trung ương do Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập
và quản lý. (Trước đó, theo Nghị định số 78/2021/NĐ-CP thì Quỹ trung
ương được Chính phủ thành lập, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý).
Nghị định số 63/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày
19/4/2025./.
Quy định phí bảo lãnh
ngân hàng từ ngày 01/4/2025
Ngày 31/12/2024, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
ban hành Thông tư quy
định về bảo lãnh ngân hàng.
Theo đó quy định phí bảo lãnh ngân hàng từ
ngày 01/4/2025 như sau:
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài thỏa thuận mức phí bảo lãnh đối với khách hàng và các bên liên quan (nếu
có) và phải niêm yết công khai mức phí bảo lãnh.
Trường hợp thực hiện đồng bảo lãnh, các bên
tham gia đồng bảo lãnh thỏa thuận mức phí bảo lãnh cho mỗi bên đồng bảo lãnh.
Trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài bảo lãnh cho một nghĩa vụ liên đới thì tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài thỏa thuận với từng khách hàng về mức phí phải trả
trên cơ sở nghĩa vụ liên đới tương ứng của mỗi khách hàng, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác.
Trường hợp đồng tiền bảo lãnh là ngoại tệ, các
bên thỏa thuận thu phí bảo lãnh bằng ngoại tệ hoặc quy đổi ra đồng Việt Nam
theo tỷ giá bán của bên bảo lãnh tại thời điểm thu phí hoặc tại thời điểm thông
báo thu phí.
Các bên có thể thỏa thuận điều chỉnh mức phí
bảo lãnh.
Mỗi giáo viên không
kiêm nhiệm quá 2 nhiệm vụ
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư
số ngày 7/3/2025 quy định chế độ làm
việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học.
Thông tư số 05/2025/TT-BGDĐT quy định thời
gian thực dạy của giáo viên THCS, THPT là 35 tuần thay vì 37 tuần dành cho việc
giảng dạy và các hoạt động giáo dục như quy định cũ. Đồng thời, bổ sung 2 tuần
dự phòng để giáo viên hoàn thành các nội dung giáo dục trong chương trình giáo
dục phổ thông.
Thông tư số 05/2025/TT-BGDĐT nêu rõ mỗi giáo
viên không kiêm nhiệm quá 2 nhiệm vụ (bao gồm cả việc kiêm nhiệm công việc
chuyên môn, công tác Đảng, đoàn thể, các tổ chức khác và một số vị trí việc làm
khác).
Tiêu chuẩn phân loại
lao động theo điều kiện lao động từ 1/4/2025
Theo Thông tư ngày
11/2/2025, điều kiện lao động gồm 6 loại và phân chia như sau:
- Nghề, công việc có điều kiện lao động được
xếp loại I, II, III là nghề, công việc không nặng nhọc, không độc hại, không
nguy hiểm;
- Nghề, công việc có điều kiện lao động được
xếp loại IV là nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
- Nghề, công việc có điều kiện lao động được
xếp loại V, VI là nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Điều kiện lao động được đánh giá, xếp loại
theo 03 phương pháp:
- Phương pháp đánh giá, tính điểm thực hiện
theo quy trình: Xác định tên nghề, công việc cần đánh giá, xác định điều kiện
lao động, quy mô lấy mẫu. Sau đó, đánh giá điều kiện lao động theo hệ thống chỉ
tiêu về điều kiện lao động.
- Phương pháp thống kê, kinh nghiệm: Căn cứ
vào đặc điểm điều kiện lao động đặc trưng của mỗi nghề, công việc của Danh mục
nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm để xác định loại điều kiện lao động cho các nghề, công việc được đánh
giá.
- Phương pháp kết hợp: Kết hợp phương pháp
đánh giá, tính điểm với phương pháp thống kê, kinh nghiệm và lấy ý kiến của bộ
quản lý ngành lĩnh vực, các chuyên gia, nhà khoa học để tổng hợp kết quả.
Quy định trên có hiệu lực từ ngày 1/4/2025.
_PHÒNG TƯ PHÁP_