XÃ HIỂN KHÁNH TỔ CHỨC THÀNH CÔNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐỀN THỜ NỮ TƯỚNG ĐÀO QUÝ NƯƠNG
Ngày 19/4, trong không khí trang nghiêm, phấn khởi, tại khu di tích lịch sử Quốc gia Đền thờ nữ tướng Đào Quý Nương, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Hiển Khánh cùng với nhân dân miền Giáp Nhất gồm 3 xóm là xóm Làng, xóm Đồng và xóm Hội tổ chức Lễ hội truyền thống nhân ngày hóa của bà.


Các đại biểu và nhân dân dự Lễ hội.
Về dự Lễ hội và dâng hương có đồng chí Phạm Xuân Thao, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã; đồng chí Nguyễn Thị Dung, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã; đồng chí Trần Đắc Sùng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND xã; đồng chí Trần Văn Quân, Phó Chủ tịch UBND xã; đồng chí Trần Thanh Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã; đại diện Phòng Văn hóa – xã hội xã, cùng cán bộ và đông đảo nhân dân trong và ngoài thôn.
Đền thờ nữ tướng Đào Quý Nương, miền Giáp Nhất, xã Hiển Khánh tọa lạc tại xóm Làng, bà là một trong những nữ tướng tài ba thời Hai Bà Trưng, bà có nhiều công lao cùng Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước. Đền thờ nữ tướng Đào Quý Nương được xây dựng theo kiểu kiến trúc tiền Nhất, hậu Đinh. Ngoài cùng là siêu hương rộng ba gian, với 4 hàng cột lim, 4 mái lợp ngói nam, Bái đường 5 gian làm bằng gỗ lim. Hậu cung 3 gian các cột, hoành, xà, bẩy đều làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói nam. Đền nữ tướng Đào Quý Nương được ban 3 đạo sắc phong, trong đó có 1 sắc phong thời nhà Lê và 2 sắc phong thời nhà Nguyễn. Năm 1990, đền thờ nữ tướng Đào Quý Nương được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Đ/c Trần Văn Quân, Phó Chủ tịch UBND xã đọc diễn văn khai hội.
Theo thần tích Đào Quý Nương, thời Hán, nước ta bị lệ thuộc. Bọn đô hộ Hán thi hành nhiều chính sách bạo ngược. Đời Đông Hán, vua Hán Quang Vũ cho Tô Định làm Thái thú nước ta. Tô Định là kẻ tham lam, độc ác, thi hành nhiều hình phạt hà khắc, thuế má nặng nề, ghen ghét, sợ hãi kẻ có tài mà không có đức. Chỉ trong mấy năm hầu như tất cả những người có tay nghề giỏi, có tài đều được hắn tỏ ra ưu ái, cho quan tước, nhưng hơi nghi ngờ là tìm cách ám hại ngay. Dân ta vô cùng cực khổ, nợ nước thù nhà chồng chất. Lúc đó, có Trưng nữ tướng quân là cháu ngoại của vua Hùng, vợ của Thi Sách, căm thù Tô Định giết hại chồng mình nên cùng em gái là Trưng Nhị dấy quân khởi nghĩa chống Tô Định, trả thù nhà đền nợ nước. Trưng Trắc và Trưng Nhị lập đồn doanh ở cửa sông Hát (thuộc huyện Phúc Thọ, phủ Quảng Oai, đạo Sơn Tây). Hai Bà tích trữ lương thực chiêu mộ luyện tập nghĩa quân chờ ngày khởi sự.
Cùng lúc đó ở trang Bồng Lai, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai có nhà họ Đào tên Thọ, vợ là Trương Thị Thái, sống hòa hợp, nhân hậu. Một đêm Bà Trương nằm võng bỗng thấy ánh sáng đỏ rực trong phòng, nhìn lên trời thấy bên cạnh vầng trăng sáng lại có một vầng trăng nữa. Bà Trương đi ra đó nhìn thì vầng trăng đó lại rơi thẳng vào người Bà. Bà hốt hoảng tỉnh dậy, thì ra một giấc chiêm bao. Bà đem chuyện kể lại cho ông nghe. Ông giải thích rằng, mặt trăng là biểu hiện quý có âm tính, tất có điều lành của phái nữ. Hai ta già rồi nhưng chưa hết phúc đức. Từ đó bà Trương mang thai, vào giờ Ngọ mùng 6 tháng Giêng năm Canh Tý, bà sinh ra một người con gái, da trắng như tuyết, mắt phượng mày ngài, mặt hoa da phấn được trăm ngày ông bà đặt tên con là Quý. Lúc 13 tuổi đã có chí nam nhi. Khi cha mẹ qua đời, nàng Quý đã là người con gái văn, võ song toàn, tài đức nổi tiếng. Nàng rất căm thù lũ giặc Tô Định tàn bạo.
Từ đó, nàng kết giao với anh hùng bốn biển muôn phương biệt lập một phương vũ trụ để chống lại bọn giặc đô hộ, cứu nước cứu dân. Chỉ trong hai năm đã tập hợp hàng vạn nghĩa sĩ, mỗi lần đánh nhau với lũ giặc Tô Định đều thu được thắng lợi. Thanh thế nữ quân ngày càng lớn. Bà Trưng được tin khi bàn bạc việc quân với các tướng sĩ, thường về chiều thở dài mà nói rằng:
Con người Quý Nương tài cán như vậy, làm thế nào mời được nàng mang quân sĩ về với ta để hiệp sức đánh giặc Tô, lấy lại thiên hạ. Kế ấy mới thật vẹn toàn.
Đức Công vội tâu xin nhận việc đó, nghĩ kế thuyết phục Quý Nương. Bà Trưng vui mừng giao nhiệm vụ đó cho Đức Công. Mấy ngày sau, Đức Công nghĩ ra một diệu kế. Ông biết ở địa đầu bên sông Tô huyện Từ Liêm có một cây bàng lớn, cành lá sum suê. Mùa đông lá bàng đỏ rơi xuống thường trôi theo dòng nước. Đêm đêm, Đức Công cùng quân sĩ lấy mỡ lợn viết lên từng lá bàng bốn dòng chữ:
Trưng Trắc làm Vua.
Đào Quý làm tướng.
Nước chỉ một vua.
Trời đã định vậy.
Ông lại sai quân sĩ vào rừng tìm hàng chục tổ kiến, thả trên cây bàng. Kiến thấy mỡ bâu vào ăn, đục thành nét chữ trên lá bàng, hiện thành bốn câu thơ trên. Ông bèn xin Bà Trưng lập đàn cầu gió lớn. Nửa đêm, bỗng gió to mưa lớn. Lá bàng rụng khắp mặt đường, trôi xuôi theo dòng sông chảy quanh doanh trại của Quý Nương. Quân sĩ nhặt lên thấy chữ lạ, vội vào bẩm báo với chủ tướng. Quý Nương và các tướng lĩnh xem cho là điều trời đã ứng nên theo về với Hai Bà Trưng. Quân sĩ cũng hò reo hưởng ứng. Đang chuẩn bị thì có tin báo Đức Công xin gặp Quý Nương. Quý Nương đón tướng Đức Công rất niềm nở, Đức Công đưa thư của Hai Bà Trưng gửi Quý Nương, lời thư chân thành và khiêm tốn khiến Quý Nương đồng ý theo về cùng Hai Bà. Hai Bà rất vui, cho hợp cùng đại quân, lại làm lễ kết nghĩa chị em với Quý Nương. Quý Nương cho rằng Vua tôi tương ngộ, cá nước hợp duyên cơ hội ngàn năm có một nên quyết tâm tận lực phù tá Hai Bà. Ít hôm sau, Quý Nương bảo với Hai Bà rằng:
Quân ta nay phụ nữ thì nhiều, nam nhi chưa có mấy, Anh hùng hào kiệt trong thiên hạ. Tôi xin cùng Đức Công đi khắp nơi để chiêu mộ binh sĩ.




Các đồng chí lãnh đạo xã đánh trống, chiêng khai hội và dâng hương.
Bà Trưng cho rằng ý kiến của Quý Nương rất hay, thật là phúc đức cho ta. Bà Trưng liền triệu Đức Công cho phép đi cùng Quý Nương. Hai người đi tới đâu, nhân dân nghe thấy ai cũng vui mừng. Một ngày nọ, Quý Nương đi tới Giáp Nhất, trang Bảo Ngũ, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng. Đêm hôm trước, nhân dân phụ lão trong làng Giáp Nhất đều nằm mộng thấy binh sĩ tiến vào làng, có một người mặc áo xanh tay cầm cờ vàng nói rằng: "Nay có hai vị phúc thần của dân làng các người đó, một vị là nữ thần, vốn là tiên giáng trần, một vị là nam thần là thổ thần xuất thể, sau này sẽ nắm quyền huyết thực của dân làng ta. Ngày mai hai vị sẽ tới làng ta, các ngươi phải nhanh hành lễ để đón. Nếu không sẽ có điều xấu". Mọi người tỉnh giấc mới biết là nằm mộng. Hôm sau, mọi người đều náo nức ra đường đón tiếp để xem có ứng mộng không? Đến giờ Mùi, quả nhiên có Đức Công và Quý Nương đi xe ngựa tới. Nhân dân cho là kỳ dị, bèn hành lễ đón vào làng, xin cho được làm thần tử. Quý Nương và Đức Công lúc đầu không dám nhận. Tới khi các cụ phụ lão thuật lại giấc mộng đêm qua, thì Quý Nương bèn nói: "Thiên định, người phải làm theo, sao lại không nhận". Quý Nương và Đức Công lưu lại làng mấy tháng, nhìn xem phong cảnh, địa thế, dân cư, thấy địa hình rất đẹp, tả long hữu hổ, hậu chẩm tiền đường đều có "phong tinh dẫn mạch", từng vật, từng vật đều chầu về, tuy hơi nhỏ hẹp, nhưng vẫn có thể lập được đồn dinh. Quý Nương thừa mệnh vua, hiểu dụ dân tình, rồi lập đồn dinh ở vùng đất này (tức là Giáp Nhất Bảo Ngũ) mặt quay về hướng nam có đường lớn đi qua.
Cầu xong, làm lễ bái tạ, truyền hịch tới các phủ huyện, kêu gọi hào kiệt anh hùng về tụ nghĩa, cùng đồng tâm cứu nước, báo đền ơn nước, dẹp tan cường bạo, làm điều nghĩa hiệp. Sau khi dẹp yên bờ cõi, sẽ cùng chung hưởng hạnh phúc thanh bình. Người khắp nơi đổ về hưởng ứng tấp nập, chỉ trong vòng mười ngày đã được gần hai vạn nghĩa sĩ. Hai người chọn một số người trang Bảo Ngũ làm gia thần, thủ túc, chọn ngày tốt khởi binh về hội hợp ở cửa sông Hát. Quân số của Hai Bà lên đến hơn sáu vạn người. Bà Trưng ra lệnh giết trâu bò, lập đàn tế cáo trời đất, bách thần. Cầu xong, phân thành nhiều đạo tiến thẳng tới thành Luy Lâu của bọn Tô Định đại chiến nhiều trận. Quân của Tô Định đại bại, tan tác, bỏ thành chạy về Bắc quốc. Chỉ trong thời gian ngắn đã thu phục được 65 thành, giang sơn về một mối. Bà Trưng lên làm vua phong Trưng Nhị là Bình Khôi công chúa. Phong thưởng cho các nữ tướng sĩ. Bà Trưng phong cho Quý Nương là Giám sát nguyên soái, phong bà là công chúa, cho hưởng thực ấp ở phủ Nghĩa Hưng. Đặt riêng đất huyện Thiên Bản cho Đức Công làm ruộng thực lộc. Quý Nương và Đức Công lạy tạ, trở về phủ Nghĩa Hưng. Dân Giáp Nhất trang Bảo Ngũ làm lễ ăn mừng. Quý Nương và Đức Công cho mổ trâu, bò khao thưởng quân sĩ và nhân dân. Người ta thường nói có công với dân, dân tất ghi nhớ để thờ tự. Quý Nương và Đức Công bèn dâng biểu xin miễn binh dịch, tô thuế, lấy đất này làm chốn hưởng thần sau này. Trưng Vương đồng ý.
Ba năm sau, Hán Quang Vũ lại sai Mã Viện, Lưu Long đem quân đến biên giới xâm lược nước ta. Được tin cấp báo, Trưng Vương ra lệnh khởi binh kháng cự. Quý Nương và Đức Công chọn người trong Giáp Nhất Bảo Ngũ làm gia thần thủ túc, chỉ huy quân về hội hợp với quân Bà Trưng, tiến lên vùng biên giới Lạng Sơn cự chiến. Được hơn một năm binh lương đều cạn, Trưng Vương bèn lui quân về Cấm Khê. Mã Viện dẫn quân tới bao vây. Thế cùng, lực kiệt, Bà Trưng cùng Quý Nương quyết đánh trận cuối cùng và hy sinh. Đó là ngày mồng 6 tháng 7, Đức Công cùng một số gia thần trở về Giáp Nhất Bảo Ngũ, viết thần hiệu của Quý Nương, lập đền thờ. Từ đó, Đức Công ở lại cùng dân Bảo Ngũ, khuyến hóa nông trang, làm điều thiện, trừ điều hại. Hai năm sau, Đức Công hóa về trời, dân lập miếu thờ.









Một số hình ảnh tại Lễ hội.
Lễ hội truyền thống đền thờ nữ tướng Đào Quý Nương là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian lâu đời, song từng bị gián đoạn do chiến tranh và nhiều yếu tố khách quan. Từ năm 1990, Lễ hội được phép khôi phục, góp phần gìn giữ, tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống và đáp ứng nguyện vọng của Nhân dân.
Lễ hội diễn ra trong không khí trang nghiêm, đầy náo nhiệt. Với phần Lễ dâng hương khai hội, Lễ rước kiệu, Lễ tế, tạ được thực hiện tại Di tích. Trong đó phần lễ rước kiệu được rước từ đền thờ Nữ tướng đến chùa Giáp Nhất mang ý nghĩa thỉnh kinh và trở về đền. Tham gia đoàn rước đi đầu là đoàn rước cầu gồm các cụ già mặc áo nâu, tay cầm phướn, tụng kinh, tiếp theo là đoàn trống, rồng, cờ hội và kiệu hoa, kiệu bà và kiệu võng. Với sự tham gia của đông đảo bà con nhân dân các thôn xóm miền Giáp Nhất và du khách thập phương về dự.
Lễ hội đền thờ nữ tướng Đào Quý Nương, xã Hiển Khánh không chỉ là sự kiện văn hóa truyền thống mà còn là dịp lan toả tinh thần đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng, tri ân các bậc tiền nhân đã có công với quê hương, đất nước, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Đây cũng là nguồn động lực tinh thần góp phần thúc đẩy xã Hiển Khánh phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng Hiển Khánh ngày càng giàu về kinh tế, vững về an ninh - quốc phòng và đậm đà bản sắc văn hóa của quê hương./.
T/h Hải Yến. Xóc đĩa online - Dubai Palace Casino Dịch vụ sự nghiệp công.
Leave a comment
Your email address will not be published. Required fields are marked *

