【Dubai Palace】📎 Link vào Dubai Casino Mobile mới nhất 2026 ✔️

Link Dubai hot nhất

Link Dubai hot nhất

Khoáng sản chiến lược: [Bài 4] Dữ liệu ‘tiếp sức’ cho Tải App DubaiPalace đất hiếm

Thứ năm, 09/04/2026
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 0 điểm ( 0 đánh giá )

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang thực hiện một đề án đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản chiến lược đất hiếm. Trao đổi với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường, ông Nguyễn Văn Nguyên, nguyên Phó Cục trưởng Cục Địa chất Việt Nam cho rằng, đề án được kỳ vọng sẽ tạo ra hệ cơ sở dữ liệu đầy đủ, tin cậy về tài nguyên đất hiếm, làm căn cứ cho quy hoạch khai thác, chế biến sâu và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao.

Ông Nguyễn Văn Nguyên nguyên Phó Cục trưởng Cục Địa chất Việt Nam (giữa) khảo sát đánh giá phát hiện quặng niken cùng Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Bắc. Ảnh: NVCC.

Ông Nguyễn Văn Nguyên nguyên Phó Cục trưởng Cục Địa chất Việt Nam (giữa) khảo sát đánh giá phát hiện quặng niken cùng Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Bắc. Ảnh: NVCC.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai Đề án đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản chiến lược đất hiếm trên phạm vi cả nước. Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về triển vọng của đề án này?

Theo các nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, đất hiếm ở Việt Nam chủ yếu tồn tại dưới hai kiểu mỏ chính. Thứ nhất là kiểu carbonatit, gồm các mỏ như Đông Pao, Nậm Xe, Mường Hum, Yên Phú hoặc đi cùng quặng đồng ở mỏ Sinh Quyền. Thứ hai là kiểu hấp phụ ion, phân bố trong lớp phong hóa của các đá magma xâm nhập và phun trào có thành phần từ axit đến trung tính.

Trên bản đồ địa chất toàn quốc, từ Bắc vào Nam xuất hiện khá phong phú các thành tạo đá magma với thành phần từ axit đến mafic, thuộc nhiều thời kỳ địa chất khác nhau, từ Đệ tứ đến Arkeiozoi. Cùng với đặc điểm cổ khí hậu thuận lợi, điều này đã tạo ra lớp đất phong hóa có chiều dày tương đối phát triển trên bề mặt các đá magma nêu trên.

Đây là tiền đề rất thuận lợi để điều tra, đánh giá đất hiếm kiểu hấp phụ ion - loại hình đang được nhiều quốc gia quan tâm do chi phí khai thác hợp lý và ít tác động môi trường hơn so với các mỏ carbonatit.

Trong bối cảnh nhu cầu đất hiếm cho chuyển đổi năng lượng xanh, công nghiệp điện tử, pin, nam châm vĩnh cửu và bán dẫn ngày càng gia tăng, việc triển khai một đề án điều tra quy mô toàn quốc ở thời điểm này là thực sự cần thiết, đúng với định hướng chỉ đạo của Đảng và Chính phủ.

Điểm cốt lõi của đề án nằm ở tính khả thi và giá trị chiến lược lâu dài. Đề án được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng trên cả cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học vững chắc: từ bề dày kinh nghiệm trong điều tra khoáng sản đất hiếm đến những dữ liệu địa chất, khí hậu đã được nghiên cứu qua nhiều năm.

Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm lấy mẫu đánh giá tài nguyên khoáng sản đất hiếm kiểu hấp phụ ion ở Kon Tum (trước đây). Ảnh: Lan Chi.

Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm lấy mẫu đánh giá tài nguyên khoáng sản đất hiếm kiểu hấp phụ ion ở Kon Tum (trước đây). Ảnh: Lan Chi.

Theo ông vì sao Việt Nam cần một đề án riêng về khoáng sản chiến lược, cụ thể là đất hiếm, ở thời điểm hiện nay?

Việt Nam hiện được đánh giá là quốc gia có tiềm năng đối với nhiều loại khoáng sản chiến lược như bauxit, titan, wolfram, đồng, niken, vàng và đặc biệt là đất hiếm.

Một đề án riêng là cần thiết vì trước hết phải bảo đảm an ninh tài nguyên, bởi đây là nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghệ cao, quốc phòng và năng lượng tái tạo. Nếu không có dữ liệu thăm dò đầy đủ, việc khai thác sẽ thiếu định hướng, dễ dẫn tới lãng phí và suy giảm nguồn lực quốc gia.

Đồng thời, đây là nền tảng cho quy hoạch phát triển công nghiệp. Khi xác định rõ diện tích phân bố, trữ lượng, chất lượng và độ sâu tồn tại của khoáng sản, chúng ta mới có cơ sở lập quy hoạch khai thác và chế biến hợp lý.

Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm vận chuyển thiết bị khoan đánh giá khoáng sản đất hiếm. Ảnh: Lan Chi.

Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm vận chuyển thiết bị khoan đánh giá khoáng sản đất hiếm. Ảnh: Lan Chi.

Bên cạnh đó, số liệu minh bạch và được chuẩn hóa sẽ giúp Việt Nam thuận lợi hơn trong đàm phán quốc tế, thu hút Bắn Cá Dubai palace và từng bước tham gia chuỗi cung ứng khoáng sản toàn cầu.

Ngoài ra, đề án còn góp phần giảm rủi ro về môi trường và xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại, tránh tình trạng “ai cũng khai thác, ai cũng xuất khẩu” mà không kiểm soát được.

Theo ông đánh giá, đề án lần này khác gì so với các quy hoạch và chiến lược khoáng sản trước đây?

Điểm khác biệt lớn nhất của đề án này là phạm vi điều tra rất rộng, gần như bao phủ toàn bộ phần đất liền Việt Nam, với tiến độ triển khai hết sức khẩn trương trong bối cảnh chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu biến động nhanh và nhiều quốc gia coi đây là nguồn lực chiến lược.

Điều này cho thấy sự nhận diện kịp thời của Đảng và Chính phủ về tầm quan trọng của khoáng sản đất hiếm, nhằm tranh thủ cơ hội để tài nguyên của Việt Nam sớm tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tinh thần đó cũng được thể hiện rõ trong việc hoàn thiện các văn bản pháp luật, như Luật Địa chất và khoáng sản năm 2025 đã dành riêng một chương về đất hiếm, cùng với các Nghị quyết của Trung ương về phát triển kinh tế nhà nước nhấn mạnh việc phát huy nguồn lực từ khoáng sản thông qua điều tra, đánh giá, thăm dò và thống kê toàn diện tài nguyên. Đây là điểm rất mới so với các chiến lược trước đây.

Một điểm khác biệt quan trọng nữa là nghiên cứu công nghệ khai thác, chế biến được triển khai đồng hành với công tác điều tra, đánh giá tài nguyên, qua đó rút ngắn khoảng cách từ dữ liệu địa chất đến giá trị công nghiệp.

Theo ông, điểm cốt lõi của quản trị khoáng sản chiến lược hiện nay là gì?

Điểm cốt lõi không nằm ở một khâu riêng lẻ, mà là sự kết hợp đồng bộ từ điều tra, đánh giá, thăm dò đến kiểm soát khai thác, phát triển chế biến sâu và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, trọng tâm hiện nay của Việt Nam phải là chế biến sâu và nâng cao giá trị, thay vì chỉ xuất khẩu quặng thô.

Điều tra và thăm dò phải đưa ra số liệu chính xác về tài nguyên và trữ lượng, làm nền tảng cho quy hoạch. Kiểm soát khai thác nhằm bảo vệ môi trường và ngăn chặn khai thác trái phép.

Khâu chế biến sâu mới là nơi tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, giúp hình thành sản phẩm phục vụ công nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và điện tử.

Định hướng quản trị đất hiếm ở Việt Nam phù hợp nhất hiện nay là “khai thác có kiểm soát - chế biến sâu - hội nhập toàn cầu”, với Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong quy hoạch và cấp phép. Đây là con đường để biến đất hiếm từ tài nguyên thô thành động lực phát triển công nghiệp hiện đại.

Trong 20-30 năm tới, đề án này có thể tạo ra những thay đổi căn bản nào cho nền kinh tế, theo ông?

Theo Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia có nguồn tài nguyên đất hiếm lớn trên thế giới, với khoảng hơn 22 triệu tấn.

Tuy nhiên, phần lớn trữ lượng được biết đến hiện nay chủ yếu nằm trong các mỏ carbonatit, vốn có công nghệ khai thác và chế biến phức tạp, chi phí cao và tiềm ẩn nguy cơ môi trường.

Điểm kỳ vọng lớn của đề án này là tập trung vào đất hiếm kiểu hấp phụ ion - loại hình có nhiều ưu thế như chi phí thấp hơn, độ sâu phân bố nhỏ, khai thác thuận lợi, hoàn thổ nhanh và ít tác động môi trường. 

Nhà địa chất khảo sát lấy mẫu đánh giá khoáng sản đất hiếm. Ảnh: Lan Chi.

Nhà địa chất khảo sát lấy mẫu đánh giá khoáng sản đất hiếm. Ảnh: Lan Chi.

Nếu triển khai hiệu quả, đề án sẽ không chỉ củng cố cơ sở dữ liệu tài nguyên quốc gia mà còn mở ra nhiều khu vực có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, hạ tầng và chất lượng khoáng sản để thu hút nhà Bắn Cá Dubai palace quốc tế.

Trân trọng cảm ơn ông!

"Đề án được triển khai hiệu quả sẽ tạo nền móng cho ngành khai thác và chế biến đất hiếm phát triển bền vững, sớm có sản phẩm tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước trong nhiều thập kỷ tới".

Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường, tác giả Mai Đan - Đào Thanh, đăng ngày 09/4/2026

Link bài viết: https://nongnghiepmoitruong.vn/khoang-san-chien-luoc-bai-4-du-lieu-tiep-suc-cho-cong-nghiep-dat-hiem-d805211.html

Văn bản mới