【Dubai Palace】📎 Link vào Dubai Casino Mobile mới nhất 2026 ✔️

Link Dubai hot nhất

Link Dubai hot nhất

Trao quyền cho phụ nữ để phân bổ nguồn nước công bằng

Thứ hai, 23/03/2026
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 0 điểm ( 0 đánh giá )

    Trò chuyện với Báo Nông nghiệp và Môi trường về chủ đề “Nước và Bình đẳng giới” nhân Ngày Nước thế giới,  - Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội) - nhà khoa học nữ vừa được vinh danh tại Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 nhấn mạnh: Phụ nữ không chỉ tham gia nghiên cứu, giảng dạy hay quản lý mà còn có thể đóng vai trò dẫn dắt, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi sự kết hợp giữa kỹ thuật và yếu tố xã hội như quản lý tài nguyên nước.

GS.TS Trần Thị Việt Nga - Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội). Ảnh: Nguyễn Thủy.

GS.TS Trần Thị Việt Nga - Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội). Ảnh: Nguyễn Thủy.

    Hành trình khẳng định vị thế trong khoa học môi trường

    Nói về chủ đề "Nước và Bình đẳng giới", bà thấy mối liên hệ giữa quản lý tài nguyên nước và việc trao quyền cho phụ nữ đang được thể hiện như thế nào trong thực tiễn hiện nay?

    Trong thực tiễn, nước là một phần không thể tách rời của đời sống, và phụ nữ thường là người gắn bó trực tiếp với nguồn tài nguyên này. Từ sinh hoạt gia đình, sản xuất quy mô nhỏ đến chăm sóc sức khỏe, phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc sử dụng và .

    Chính vì vậy, khi các chính sách và chương trình quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của phụ nữ, hiệu quả thường rõ rệt hơn. Phụ nữ không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là tác nhân quan trọng trong việc duy trì, vận hành và giám sát các hệ thống nước ở cấp cộng đồng.

    Việc trao quyền cho phụ nữ thông qua đào tạo, nâng cao năng lực, tạo cơ hội tiếp cận thông tin và tham gia vào quá trình ra quyết định sẽ góp phần bảo đảm phân bổ nguồn nước công bằng hơn. Đây không chỉ là vấn đề xã hội mà còn là điều kiện cần để quản lý tài nguyên nước một cách bền vững.

    Là một nữ khoa học gia vừa vinh dự được vinh danh tại Giải thưởng Kovalevskaia 2025, bà nhìn nhận vai trò của phụ nữ như thế nào trong lĩnh vực kỹ thuật môi trường và quản lý nước?

    Trong quá khứ, lĩnh vực kỹ thuật môi trường và quản lý nước thường được xem là “lĩnh vực của nam giới” bởi yêu cầu kỹ thuật cao và điều kiện làm việc khắc nghiệt. Tuy nhiên, hiện nay, xu hướng này đang thay đổi mạnh mẽ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho GS.TS Trần Thị Việt Nga, sáng 6/3/2026. Ảnh: VGP.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho GS.TS Trần Thị Việt Nga, sáng 6/3/2026. Ảnh: VGP.

    Phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn và không chỉ dừng lại ở vai trò nghiên cứu mà còn giữ các vị trí quan trọng trong giảng dạy, quản lý và triển khai các dự án thực tiễn. Những phẩm chất như sự kiên trì, tỉ mỉ, khả năng lắng nghe và kết nối cộng đồng giúp phụ nữ có những lợi thế riêng trong lĩnh vực này.

    Tôi cho rằng, phụ nữ không chỉ có thể tham gia mà còn có thể đóng vai trò dẫn dắt, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi sự kết hợp giữa kỹ thuật và yếu tố xã hội như quản lý tài nguyên nước.

    Biến nước thải thành tài nguyên, đảm bảo công bằng tiếp cận nước sạch

    Trong các nghiên cứu của bà về xử lý nước thải và “tái tạo” tài nguyên nước theo hướng kinh tế tuần hoàn, bà đánh giá những giải pháp công nghệ này có thể đóng góp như thế nào cho mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là bảo đảm tiếp cận nước sạch công bằng cho cộng đồng?

     Những năm gần đây, tư duy quản lý nước đã chuyển từ “xử lý ô nhiễm” sang “tái tạo tài nguyên”. Nước thải không còn là gánh nặng môi trường mà trở thành nguồn tài nguyên có thể khai thác nếu được xử lý phù hợp.

GS Trần Thị Việt Nga là chuyên gia lĩnh vực kỹ thuật xử lý nước và nước thải. Ảnh: NVCC.

GS Trần Thị Việt Nga là chuyên gia lĩnh vực kỹ thuật xử lý nước và nước thải. Ảnh: NVCC.

    Thực tiễn cho thấy, bài toán nước không chỉ dừng ở việc đảm bảo cấp nước an toàn hay giảm ô nhiễm môi trường nước, mà mở rộng sang duy trì cân bằng chu trình nước tự nhiên, sử dụng hiệu quả tài nguyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu gia tăng. Đồng thời, ngành nước hướng tới tận thu năng lượng và vật chất từ quá trình xử lý nước thải, bùn thải theo mô hình kinh tế tuần hoàn.

    Trong định hướng nghiên cứu, chúng tôi tập trung phát triển công nghệ phù hợp điều kiện Việt Nam với hai hướng chính. Thứ nhất là các công nghệ tiên tiến như ứng dụng màng lọc trong xử lý nước và nước thải nhằm nâng cao hiệu quả xử lý và chất lượng nước đầu ra. Thứ hai là các giải pháp chi phí thấp, dễ vận hành, có thể triển khai rộng rãi, đặc biệt tại nông thôn và khu vực còn hạn chế hạ tầng.

    Công nghệ hiện nay cho phép tái sử dụng nước sau xử lý cho nhiều mục đích như sản xuất, tưới tiêu hoặc bổ sung nguồn nước cho hệ sinh thái. Đồng thời, có thể thu hồi năng lượng và các thành phần có giá trị từ dòng thải, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Những giải pháp này giúp giảm áp lực lên nguồn nước tự nhiên và mở rộng cơ hội tiếp cận nước sạch, nhất là tại các khu vực khó khăn. Đây là nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững, trong đó yếu tố công bằng trong tiếp cận nước được đặt ở vị trí trung tâm. Giải pháp công nghệ phải “đi cùng” thực tiễn. 

    Từ kinh nghiệm nghiên cứu và triển khai các mô hình công nghệ xử lý nước thải như công nghệ màng kỵ khí, theo bà Việt Nam cần ưu tiên những giải pháp nào để vừa bảo vệ tài nguyên nước, vừa đảm bảo cơ hội tiếp cận nước sạch cho các nhóm dễ bị tổn thương, trong đó có phụ nữ và trẻ em?

    Một hướng đi quan trọng là phát triển công nghệ xử lý nước thải tiết kiệm năng lượng và có khả năng thu hồi tài nguyên, tiêu biểu như công nghệ màng kỵ khí (AnMBR). Công nghệ này cho phép xử lý hiệu quả nước thải phục vụ mục tiêu tái sử dụng, đồng thời tạo ra khí sinh học có thể sử dụng cho phát điện hoặc cấp nhiệt. Nhờ đó, công trình xử lý không chỉ “loại bỏ ô nhiễm” mà trở thành hệ thống “tái tạo và thu hồi tài nguyên”.

GS.TS. Trần Thị Việt Nga (người cầm sổ) cùng nhóm nghiên cứu triển khai mô hình thí điểm (Pilot) tại hiện trường, tháng 4/2025. Ảnh: NVCC.

GS.TS. Trần Thị Việt Nga (người cầm sổ) cùng nhóm nghiên cứu triển khai mô hình thí điểm (Pilot) tại hiện trường, tháng 4/2025. Ảnh: NVCC.

    Quá trình nghiên cứu tập trung hoàn thiện cấu hình công nghệ, tối ưu vận hành và triển khai thực tế tại các trạm xử lý nước thải sinh hoạt, cơ sở chế biến thực phẩm và trang trại chăn nuôi. Kết quả cho thấy công nghệ có khả năng thích ứng với điều kiện Việt Nam. Mục tiêu tiếp theo là nội địa hóa thiết bị để giảm chi phí và mở rộng ứng dụng.

    Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay là khoảng cách giữa công nghệ và thực tiễn. Vì vậy, cần ưu tiên giải pháp phù hợp: hiệu quả, dễ vận hành, chi phí hợp lý và có thể nhân rộng. Các mô hình xử lý phân tán, công nghệ sinh học và hệ thống tiêu thụ ít năng lượng đặc biệt phù hợp với vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

    Bên cạnh đó, cần Bắn Cá Dubai palace đồng bộ hạ tầng cấp nước và có chính sách hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương. Phụ nữ và trẻ em thường chịu ảnh hưởng trực tiếp khi thiếu nước sạch, nên việc đảm bảo tiếp cận nước an toàn cho các nhóm này cần được ưu tiên. Quản lý tài nguyên nước vì thế không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là câu chuyện phát triển bao trùm và công bằng xã hội.

    Tiếp sức cho phụ nữ trên hành trình khoa học

    Trong hành trình nghiên cứu khoa học của mình, bà từng chia sẻ rằng phụ nữ làm khoa học thường phải “đa nhiệm” giữa công việc chuyên môn và gia đình. Theo bà, cần những cơ chế hay môi trường nào để phụ nữ trẻ tự tin theo đuổi các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đặc biệt trong ngành nước và môi trường?

    Đúng là phụ nữ làm khoa học thường phải cân bằng nhiều vai trò, vừa là nhà nghiên cứu, vừa là người chăm sóc gia đình. Điều này khiến họ gặp nhiều áp lực hơn so với nam giới.

    Để hỗ trợ phụ nữ, theo tôi cần xây dựng một môi trường làm việc linh hoạt, tạo điều kiện để họ phát triển chuyên môn mà vẫn có thể cân bằng cuộc sống. Các chính sách về thời gian làm việc, cơ hội nghiên cứu, đào tạo nâng cao và ghi nhận đóng góp là rất cần thiết.

     Ngoài ra, các chương trình cố vấn, kết nối giữa các thế hệ nhà khoa học cũng đóng vai trò quan trọng. Khi phụ nữ trẻ có hình mẫu để học hỏi và được hỗ trợ đúng lúc, họ sẽ tự tin hơn trong việc theo đuổi sự nghiệp khoa học.

    Sau khi được trao Giải thưởng Kovalevskaia 2025, bà có những kế hoạch hoặc sáng kiến nào nhằm hỗ trợ, truyền cảm hứng cho thế hệ nữ sinh và nhà khoa học trẻ tham gia nghiên cứu trong lĩnh vực tài nguyên nước, qua đó góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong khoa học?

     Đối với tôi, giải thưởng không chỉ là sự ghi nhận mà còn là trách nhiệm. Tôi mong muốn có thể đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng khoa học, đặc biệt là hỗ trợ thế hệ trẻ.

    Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục tham gia các hoạt động đào tạo, hướng dẫn sinh viên và chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu. Đặc biệt, tôi muốn khuyến khích nhiều nữ sinh tham gia vào lĩnh vực khoa học và công nghệ, bởi đây là những lĩnh vực rất cần sự đa dạng về giới.

    Tôi tin rằng, khi các bạn trẻ hiểu được ý nghĩa của công việc mình làm, mỗi nghiên cứu, mỗi giải pháp đều có thể góp phần cải thiện môi trường và cuộc sống thì họ sẽ có thêm động lực để theo đuổi con đường này.

Trân trọng cảm ơn bà!

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, GS. Trần Thị Việt Nga đã chủ trì 9 đề tài các cấp, tham gia tổng cộng 20 đề tài khoa học công nghệ, công bố 82 bài báo khoa học (40 bài trên tạp chí quốc tế SCIE/SCOPUS, H-index 17). Nhiều công trình của bà đã được chuyển giao thực tế, như công nghệ AnMBR tại trang trại chăn nuôi quy mô lớn, công nghệ SBR cải tiến tại Nhà máy xử lý nước thải Yên 【NHẬN CODE 88K】, góp phần giảm chi phí và nâng cao hiệu quả xử lý.

Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường, tác giả Nguyễn Thủy, đăng ngày 22/3/2026

Link bài viết: https://nongnghiepmoitruong.vn/trao-quyen-cho-phu-nu-de-phan-bo-nguon-nuoc-cong-bang-d802112.html

Văn bản mới