Cách nhận biết sớm bệnh viêm não mô cầu ở trẻ em và phương pháp xử trí
Bệnh viêm màng não do não mô cầu ở trẻ em là một bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh sẽ diễn tiến
nhanh chóng, tỷ lệ tử vong cao và hay để lại di chứng nặng nề về sau này.
1. Bệnh viêm màng não do não mô cầu
là gì?
Bệnh
viêm màng não do não mô cầu là hiện tượng viêm của các màng bao bọc hệ thần
kinh trung ương do vi khuẩn Neisseria meningitides gây ra, tại Mỹ tỷ lệ tử vong
của bệnh lên tới 13%. Đây là loại vi khuẩn phổ biến thứ 2 gây viêm màng não mủ ở
trẻ em.
Biểu
hiện lâm sàng thay đổi từ sốt nhẹ đến bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết, hay tiến triển
ác tính gây tử vong sau vài giờ kể từ khi khởi phát.
Bệnh
cảnh lâm sàng thường nặng nề và cấp tính, tỷ lệ tử vong và di chứng cao nếu
không điều trị kịp thời, đặc biệt nếu có viêm màng não mủ.
Bệnh
do não mô cầu có tốc độ lây lan nhanh, khả năng phát triển thành dịch vì lây
truyền dễ dàng qua đường hô hấp (giọt bắn), đặc biệt ở những nơi tập trung đông
người. Bệnh phát triển mạnh về mùa đông và hay gặp ở trẻ nhỏ và thanh thiếu
niên. Ngoài ra, bệnh hay xảy ra và lan rộng tại các tập thể đông đúc, ở thành
thị hơn nông thôn.
2. Triệu chứng của viêm màng não
do não mô cầu ở trẻ em
Bệnh
thường khởi phát đột ngột với những biểu hiện như sốt cao đột ngột 39 – 40 độ C
(có khi đến 40 – 41 độ C), có thể có kèm rét run, ho, đau họng, mệt mỏi, đau
cơ, nôn vọt, nhức đầu, co giật. Trong các trường hợp nặng, trẻ sẽ li bì, bỏ ăn,
bỏ chơi hoặc co giật và cuối cùng là hôn mê.
Các
biểu hiện bệnh ban đầu rất giống với biểu hiện của bệnh cúm mùa, đặc biệt hai bệnh
này đều thường gặp vào mùa đông. Bởi vậy, rất nhiều gia đình chủ quan và cho rằng
con bị cúm nên không cho đi khám kịp thời. Vậy nếu trẻ có các biểu hiện như trên
kèm theo đang có dịch do não mô cầu tại khu vực đang sinh sống, gia đình nên
đưa trẻ đến bệnh viện càng sớm càng tốt sau khi xuất hiện các triệu chứng nghi
ngờ.
Ngoài
ra, trên da trẻ sẽ xuất hiện các ban hình sao trong vòng 1-2 ngày sau sốt. Tử
ban (ban bị hoại tử và lan truyền rất nhanh) màu đỏ thẫm hoặc xanh tím, đường
kính 1-5 mm, có thể gộp lại thành đám, đôi khi có vùng da hoại tử, bề mặt bằng
phẳng, không gồ lên mặt da. Tử ban xuất hiện sớm và lan nhanh rộng khắp người
nhưng thường tập trung nhiều ở vùng thân mình và 2 chi dưới. Lúc này, tình trạng
của trẻ có thể đã rơi vào nhiễm trùng nhiễm độc, sốc nhiễm trùng nặng, suy đa tạng
và có thể tử vong nhanh trong vòng 24 giờ.
3. Cách chẩn đoán và điều trị viêm
màng não do não mô cầu
Ngoài
những biểu hiện lâm sàng đặc trưng của viêm màng não mủ, để chẩn đoán viêm màng
não do não mô cầu, bác sĩ sẽ làm thêm một số xét nghiệm như xét nghiệm máu, xét
nghiệm dịch não tủy, cấy máu, cấy dịch hầu họng, nhuộm soi dịch hầu họng và dịch
não tủy...
Khi
bệnh nhân có biểu hiện nghi ngờ của viêm màng não do não mô cầu, bệnh nhân cần
được cách ly sớm nhất có thể nhằm tránh lây lan. Liệu pháp kháng sinh cần được
sử dụng ngay sau khi cấy máu nhằm giảm tỷ lệ tử vong của bệnh.
Kháng
sinh đặc hiệu hiện nay vẫn là Penicillin G tiêm trực tiếp tĩnh mạch nhiều lần
trong ngày hoặc Cephalosporin thế hệ III như Cefotaxime, Ceftriaxone. Những trường
hợp dị ứng Penicillin G, trẻ có thể được dùng thay thế với Chloramphenicol. Thời
gian điều trị phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh và sự đáp ứng của từng bệnh
nhân.
Bên
cạnh đó, khi trẻ đã rơi vào sốc, cần chỉ định thêm các thuốc điều trị hỗ trợ
tim mạch, điều chỉnh cân bằng dịch điện giải, hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn... tùy
theo chỉ định của bác sĩ. Các biện pháp điều trị hỗ trợ khác như: Hạ sốt, chống
co giật, dinh dưỡng, chăm sóc vệ sinh dự phòng loét...
4. Phòng ngừa viêm màng não do não
mô cầu
Đây
là bệnh không thường gặp nhưng nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao. Vì vậy chúng ta cần
phòng ngừa nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.
Tất
cả các bệnh nhân nghi ngờ nhiễm não mô cầu đều cách ly tại bệnh viện ít nhất
sau 24 giờ dùng kháng sinh.
Sử
dụng thuốc dự phòng cho những người đã tiếp xúc với nguồn bệnh (là những người
đã có chẩn đoán xác định nhiễm nào mô cầu và đang điều trị) như những thành
viên cùng gia đình, bạn cùng phòng, đồng nghiệp... Trong trường hợp này, các cá
nhân có tiếp xúc với người bệnh nên đến Bệnh viện để được tư vấn và kê thuốc dự
phòng sớm nhất có thể.
Cách
phòng chống chủ động tốt nhất là tiêm chủng vắc xin não mô cầu theo khuyến cáo.
Hiện tại, Việt Nam đang có vắc xin phòng 3 type huyết thanh là A, B, C là vắc
xin phòng não mô cầu AC và vắc xin phòng não mô cầu BC. Trẻ nên tiêm cả 2 loại
vắc xin để có được miễn dịch với cả 3 type huyết thanh thường gặp của não mô cầu.
Vắc xin BC có thể tiêm cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên, vắc xin AC có thể tiêm
cho trẻ từ 2 tuổi trở lên. Tuy nhiên để đạt được miễn dịch đủ và lâu dài trẻ cần
được tiêm đủ liều và nhắc lại theo hướng dẫn của bác sĩ.
5. Cần làm gì khi trẻ có dấu hiệu
của viêm màng não do não mô cầu?
Nếu
trẻ có những biểu hiện như sốt cao đột ngột 39 – 40 độ, rét run, ho, đau họng,
mệt mỏi, đau cơ, nôn vọt, nhức đầu, co giật, li bì, bỏ bú, đặc biệt nơi sinh sống
đang có dịch não mô cầu thì cha mẹ nên nhanh chóng đưa trẻ đến Bệnh viện để được
thăm khám và điều trị kịp thời. Nếu đã có chẩn đoán xác định bệnh, trẻ cần được
nhập viện điều trị và cách ly tránh lây lan trong cộng đồng, gia đình cần tuân
thủ và hợp tác cùng bác sĩ để đạt được hiệu quả cao nhất trong điều trị.
Đối
với các thành viên trong gia đình, anh chị em, bạn bè có tiếp xúc với bệnh nhân
cần nhanh chóng đến bệnh viện để được tư vấn liệu pháp kháng sinh dự phòng bệnh.
Thu Hương (tổng
hợp)