Đền
Y Lư
Đền Y Lư, thôn Y Lư, xã Nam Hoa, đền thờ Linh
Lang Đại vương, một nhân vật lịch sử thuộc thời vua Lý Thánh Tôn. Căn cứ vào
các câu đối, sắc phong và thần phả được lưu giữ tại di tích thì đức Linh Lang
là con một bà họ Nguyễn, cung phi thứ 9 của vua Lý Thánh Tôn. Một đêm bà nằm mơ
thấy Long thần quấn vào mình rồi có mang, sau 14 tháng mới sinh. Lúc đó là giờ
thân ngày 13 tháng 2 năm Giáp Thìn, niên hiệu Gia Khánh thứ 6 (1064). Khi sinh
ra, ông có hình tướng khôi kì, nhà vua lấy làm lạ bèn đặt tên là hoàng tử Lang
rồi mở yến tiệc lớn ăn mừng, tìm bà mẹ ban cho mang về nuôi nấng ở chốn cũ.
Thời kỳ đó, giặc Tống sang xâm lược nước ta. Nhà vua rất lo lắng, xuống chiếu
nếu ai có tài diệt được giặc sẽ trọng thưởng.
Khám và tượng thờ Linh Lang Đại vương
Nhà vua sai
người tới trại Thủ lệ báo tin. Hoàng tử nói với mẹ rằng: “ ngoài biên ải đang
nguy ngập không yên, xin mẹ cho mời xứ giả vào để con thưa chuyện”. bà mẹ kinh
sợ hỏi: “ thế sự như vậy, con còn nhỏ tuổi kham sao được”. Nhưng theo yêu cầu
của con bà mẹ vẫn mời sứ giả vào. Hoàng tử nói với sứ giả rằng: “ ông nhanh về
tâu với vua, xin chớ lo lắng, tôi xin ra trận, thiên hạ sẽ yên thôi.”. Sứ giả
lạy hỏi: “có phải chuẩn bị binh khí không?”. Hoàng tử đáp: “một lá cờ hồng, một
con voi đực”. Sứ giả về tâu với vua, nhà vua rất vui bèn cho hoàng tử như ý
muốn, lại còn cho thêm mấy vạn tinh binh. Khi Hoàng tử đứng dậy, hô một tiếng
voi liền phủ phục phía trước, Hoàng tử tay cầm cờ nhảy lên mình voi ra trận.
Chỉ trong một thời gian ngắn Hoàng tử đã đem chiến thắng trở về, dẹp tan giặc
Tống xâm lược.
Nhà vua thấy
Hoàng tử có công lớn muốn nhường ngôi cho, nhưng Hoàng tử từ chối xin trở về ở
nơi cũ. Được bảy ngày bỗng sinh dị chứng nan y chữa chạy không khỏi. Nhà vua
tới thăm hỏi, Hoàng tử tâu rằng: “con giáng thế có thời hạn, không phải người
thường, nếu nhà vua thương con xin cho dựng cờ ở ngoài. Sau khi con chết xin
được tung lên trời, nếu thấy lá cờ bay về đâu thì thờ tự con ở đó, như vậy là
đủ rồi”. Nhà vua đồng ý trở về. Một lát sau hoàng tử biến thành con rắn dài 100
trượng từ từ bay ra đầm Dậm thì biến mất. Khi đó là ngày mồng 10 tháng 2 năm Ất
Tỵ. Thời gian ấy lá cờ hồng bay lên không trung rơi xuống mấy trăm nơi rồi lại
dựng ở trước cửa ngọ môn như cũ. Nhà vua cho đó chính là kì lạ, sai quan phong
vương tước. Tháng 3 xuống chiếu cấp tiền kho cho trại Thủ Lệ dựng đền thờ tự.

Ngai thờ thời Hậu Lê
Theo truyền
thuyết của nhân dân thôn Y Lư thì trong thời gian đó, binh sĩ của hoàng tử Linh
Lang trên đường đi chiến đấu có qua vùng đất này, hiện nay những dấu vết vẫn
còn như các cồn roi, cồn ngựa,.... ở phía tây làng.
Nhân dân thôn
Y Lư thấy được công lao to lớn của Hoàng tử Lang, vừa cho đây là nhân vật có
nhiều phép linh ứng theo tín ngưỡng tôn giáo nên tôn làm Thành hoàng, xây dựng
đền thờ trang nghiêm từ rất lâu đời. Câu đối tại đền có nghi:
“
Hách hách anh thanh thiên cổ tại
Nguy
nguy miếu vũ tứ thời xuân”.
Dịch nghĩa:
“ Thanh danh hiển hách mãi ngàn năm
Miếu vũ
nguy nga bốn mùa tráng lệ”
“Tam
thúy trấn hưng thì đại dịch
Nhất
thiên trắc giáng quốc dân hưng”
Dịch nghĩa:
“Khắp nơi chấn hưng thời đại thay đổi
Biến hóa khắp trời, quốc dân hưng thịnh”.
“Thánh
bất khả tri thần trắc dáng
Đức
chi chí thịnh kiếp y chiêm”
Dịch nghĩa:
“ Thánh không thể bất thần biến hóa
Đức mà thịnh vượng thì mọi người được sung sướng nhờ trông”.
Đền Y Lư tọa
lạc ở trung tâm thôn Y Lư, trên mảnh đất rộng khoảng 3000m2. Đền Y Lư là một
công trình kiến trúc cổ nằm ẩn mình dưới tán lá của những cây cổ thụ xum xuê,
phía trước là hồ nước trong xanh. Đền Y Lư quay mặt về hướng Nam, với lối kiến
trúc kiểu chữ đinh, gồm 3 gian tiền đường và 3 gian hậu cung.
[if !vml]
Toàn
cảnh đền Y LƯ
Ba gian tiền
đường được bố trí theo kiểu đăng đối, gian giữa rộng 2,6m, nhưng 2 gian bên mỗi
gian rộng tới 3,35m. Toàn bộ tòa tiền đường được đỡ trên 12 cột gỗ lim. Phần
mái của tòa tiền đường kiến trúc theo kiểu chồng giường kẻ bảy, các chạm khắc ở
đây đều mang phong cách thời Nguyễn với các hoa lá cách điệu, rồng chầu mặt
nguyệt. Tiền đường đã qua nhiều lần tu sửa và lần tu sửa cuối cùng vào năm Giáp
Ngọ, niên hiệu Thành Thái (1893). Thượng lương có nghi :
“Hoàng triều Thành Thái Giáp ngọ niên thu
nguyệt cát nhật lương thời thu trụ thượng lương nhị tòa đại cát”
Dịch nghĩa:
“ Giời đẹp ngày tốt mùa thu năm Giáp ngọ
niên hiệu Thành Thái dựng cột cất
nóc hai tòa rất tốt đẹp”
Tiếp theo tòa
tiền đường là hậu cung gồm 4 gian bố trí theo chiều dọc, mái được xử lý bắt vần
với tiền đường. Kiến trúc ở hậu cung vẫn theo lối truyền thống chồng giường kẻ
bẩy với 16 cột gỗ. Các mảng chạm khắc và kiến trúc ở đây đều mang phong cách
thời Hậu Lê, đặc biệt chiếc ván gỗ trên xà ngang của gian thứ nhất còn có bức
chạm rồng chầu mặt nguyệt phong cách Hậu Lê khá đẹp.
Cung
thờ tại tòa tiền đường
Lễ hội đền Y
Lư hàng năm diễn ra trong 3 ngày từ ngày mồng 8 đến hết ngày mùng 10 tháng 2 âm
lịch, ngày kỵ của Linh Lang đại vương.
Vào ngày mồng
8 các họ Lê, Phạm, Vũ ... tổ chức rước bài vị các đồ thờ tự từ các từ đường của
ba họ về đền để lễ bái. Đây là nghi thức thu hút nhiều người tham gia nhất, vì
ai cũng lo cho đám rước của dòng họ mình thật trang trọng, thật đông vui. Trong
3 ngày lễ hội, dân làng cùng các dòng họ trong thôn tổ chức lễ dâng hương, tế
lễ, rước lễ vật vào đền dâng lên Đức thánh để cầu phúc lộc bình an, mưa thuận
gió hoà, mùa màng tươi tốt.
Ngoài các nghi
lễ thiêng liêng, trong lễ hội còn diễn ra các sinh hoạt văn hoá, và trò chơi
dân gian đặc sắc như: đu quay, tổ tôm điếm, đấu vật, tổ chức văn nghệ với không
khí đông vui, náo nhiệt.
Đặc biệt trong
ngày chính kỵ (tức là ngày mồng 10) tại sân đền có tổ chức đấu gậy, đấu kiếm. Đây
chính là hình thức sinh hoạt để ôn lại truyền thống thượng võ, chống giặc ngoại
xâm của ông cha. Trong những năm gần đây được chính quyên quan tâm chỉ đạo nên
ngoài các nghi lễ trên, lễ hội đền Y Lư còn có các hoạt động thể dục, thể thao
hiện đại như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông. Lực lượng tham gia chủ yếu là dân
trong thôn và có thêm một số đơn vị bạn góp vui.
Đền Y Lư xã
Nam Hoa là nơi thờ Linh Lang đại vương, người có công lớn dẹp tan quân xâm lược
nhà Tống ở thế kỷ 12, bảo vệ nền độc lập của dân tộc, ông đã góp phần tô đậm
thêm truyền thống vẻ vang chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
Tại đền, hiện
còn lưu giữ được nhiều di vật quý hiếm mang giá trị Lịch sử - Văn hóa cao như :
sắc phong, thần phả; sập thờ, ngai, khám, cấu đối, đại tự, .. thời Hậu Lê.
[if !vml]
Kiệu bát cống
Đền Y Lư còn là
một công trình hoàn toàn mang phong cách kiến trúc dân tộc. từ vật liệu xây
dựng đến phong cách bố cục, các mảng chạm khắc đến cả không gian tổng thể. Sự
hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên đều thể hiện rõ một bản sắc, một phong
cách Việt Nam.
Di tích có bố
cục chặt chẽ cả về nội, ngoại thất. Từ các công trình kiến trúc, đến cây xanh
được bố trí một cách hợp lý làm tăng vẻ đẹp của di tích. Đền được tu sửa lớn
vào thời Nguyễn và cho đến nay vẫn còn khả năng bền vững lâu dài mặc dù thời
gian, chiến tranh và thiên nhiên tàn phá liên tục
Từ những giá
trị tiêu biểu về Lịch sử và giá trị Kiến trúc, đền Y Lư được UBND tỉnh Nam Hà công nhận di tích Lịch
sử - Văn hóa năm 1996 ./.
Nguồn: Duy Huyền