Đền
- Chùa thôn Nội
Chùa
có tên chữ: Thần Quang Tây tự.
II. ĐỊA ĐIỂM
VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH:
1.
Đặc
điểm di tích:
Nam Thanh là vùng đất cổ huyện Nam Trực. Vào thời Trần
thế kỷ thứ 13 vùng đất này thuộc huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, thời kỳ quân
Minh sân lược nước ta đặt tên là phủ Phụng Hóa, thời Lê Trung Hương vì tránh
tên húy của Tây Định Vương Trịnh Tạc nên đổi huyện Tây Chân thành huyện Nam
Chân. Đến năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) tách Nam Chân thành hai huyện Nam Chân,
Chân Ninh sau này huyện Nam Trực và Trực Ninh.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 xã Nam Thanh có các
tên xã Xối Thượng gồm (Trung Thắng, Phú Cường, Bình Yên, Quần Trà), xã Thượng
Lao, xã Xối Tây, xã Xối Trì, xã Hạ Lao và trang Tư Đồ, thuộc tổng Liên Tỉnh, xã
Tương Nam gồm (Thôn Nội và Tương Nam) thuộc tổng Cổ Nông. Cách mạng tháng 8 năm
1945 đã hợp nhất 3 xã Xối Thượng, Thượng Lao và Tương Nam thành một xã lấy tên
là xã Minh Viên.
Năm 1947 xã Minh Viên hợp nhất với xã Phú Thứ thành
một xã lấy tên là xã Minh Phú. Năm 1948 xã Minh Phú hợp nhất với xã Nam Hồng lấy
tên là xã Nam Hồng. Đến năm 1952 thực hiện nghị quyết số 1108/TC-NQ của Tài xỉu Sicbo - Dubai Palace Casino
kháng chiến hành chính liên khu III, ngày 15/10/1952, các xã của huyện Nam Trực
được chia thành 35 xã mới với chữ Nam đứng đầu. Lúc này xã Nam Hồng được chia
làm 3 xã Nam Trung, Nam Hồng và Nam Ninh, Thôn Nội nằm trong xã Nam Ninh.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng và nhà
nước có chủ trương thay đổi địa chính của một số huyện để cho phù hợp với tiến
trình xây dựng XHCN, tiến hành chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền
Bắc, tăng cường chi viện cho Miền Nam. Ngày 26/3/1968, theo nghị quyết số 41/CP
của Hội đồng chính phủ hai huyện Nam Trực và Trực Ninh được sáp nhập thành huyện
Nam Ninh bao gồm 35 xã của huyện Nam Trực và 20 xã của huyện Trực Ninh.
Tháng 2/1978 để phục vụ cho cơ giới và các lĩnh vực
kinh tế xã hội ở một huyện điểm của miền Bắc. Chính phủ đã quyết định sáp nhập
xã Nam Ninh và Nam Long thành một xã lấy tên là xã Nam Thanh.
Ngày 26/2/1997 thực hiện nghị quyết số 19/CP của
Chính Phủ, huyện Nam Ninh được chia làm hai huyện Trực Ninh và huyện Nam Trực.
Như vậy sau 29 năm hợp nhất xã Nam Thanh lại thuộc về huyện Nam Trực cùng với 19
xã khác. Xã Nam Thanh với vị trí địa lý; Phía Bắc giáp xã Nam Hồng, Phía Tây
giáp xã Nam Lợi, phí Nam giáp xã Trực Tuấn, Trung Đông, Phía Đông giáp Thị trấn
Cổ Lễ và 2km sông Hồng.
Đền - Chùa Nội nằm ở đầu xã, giáp với Quốc lộ 21 và
đường giao thông liên xã, liên thôn. Hơn nữa di tích nằm gần với thị trấn Cổ Lễ
của huyện Trực Ninh đây là trung tâm văn hóa của Trực Ninh dân cư đông đúc, đồng
thời cũng là nơi có di tích Chùa Cổ Lễ thờ Quốc Sư Nguyễn Minh Không nên rất
thuận lợi cho phát huy tác dụng của di tích.
2.
Đường
đến di tích:
Về di tích Đền - Chùa thôn Nội có thể đi bằng nhiều
đường nhưng thuận lợi nhất là những đường sau:
Về với di tích lịch sử cấp tỉnh Đền Chùa Nội xã Nam
Thanh, xuất phát từ thành phố Nam Định qua cầu Đò Quan dọc theo quốc lộ 21 về
thị trấn Cổ Lễ đến km số 14 rẽ tay phải theo đường liên xã khoảng 700m, rẽ trái
khoảng 100m là đến di tích.
Từ chợ Chùa (thị trấn Nam Giang) Xóc đĩa online - Dubai Palace Casino huyện Nam
Trực theo đường Vàng khoảng 6km, rẽ phải khoảng 1km đến ngã ba sông Ngọc (Nam Hồng)
rẽ trái đi khoảng 1km nữa là đến di tích.
III. LOẠI
HÌNH DI TÍCH:
Đền - Chùa thôn Nội là nơi thờ Phật, thờ thánh tổ
Nguyễn Minh Không, thờ Nam Hải Phạn đại vương, Đinh Chương Tấu đại vương.
Trong các phong trào cách mạng và kháng chiến chống
thực dân Pháp, đền chùa Nội trở thành địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng
của địa phương góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Đặc biệt trong thời kỳ
trước cách mạng tháng 8/1945, giai đoạn (1936-1939) Đền - Chùa Nội là cơ sở an
toàn tin cậy cho nhiều cán bộ, đảng viên hoạt động và chỉ đạo phong trào kháng
chiến. Trong giai đoạn hai năm bốn tháng (tháng 10/1949 đến tháng 2/1952), Đền
- Chùa thôn Nội là nơi nuôi dấu cán bộ cách mạng về hoạt động tại địa phương.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đền - Chùa là nơi sơ tán, trụ sở
làm việc của UBND huyện Nam Trực và Trực Ninh.
Căn cứ vào kết quả khảo sát, nghiên cứu, đánh giá về
giá trị của di tích thì Đền - Chùa thôn Nội là di tích lịch sử.
IV. NHÂN VẬT,
SỰ KIỆN LỊCH SỬ LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH:
1.
Chùa
thôn Nội là nơi thờ Phật và Thánh tổ Nguyễn Minh Không.
Ngoài thờ Phật như các ngôi chùa khác, chùa thôn Nội
còn thờ Thánh tổ Nguyễn Minh Không là vị Quốc sư thời Lý.
Căn cứ vào thần tích và các tư liệu Hán Nôm cùng
truyền thuyết địa phương, dưới thời Lý, Nguyễn Minh Không đã về đất Bách Tính
(Nam Hồng ngày nay) cắm đăng đơm đó, làm nghề chài lưới để sinh sống. Ông thường
xuyên theo dòng Ngọc Giang từ Bách Tính (Nam Hồng) xuống Cổ Lễ (Trực Ninh) để
chài lưới, đến địa phân thôn Nội có một cồn cát cao ông thường dựng lều nghỉ ngơi
và phơi lưới. Sau này gò đất có tên là gò Cánh Khe. Chính tại nơi đây sau này
dân làng dựng chùa thờ Thánh tổ.
Theo sách Đại
Việt sử ký toàn thư tập 1của Nxb KHXH - năm 1998 thì Nguyễn Minh Không tên
thật là Nguyễn Chí Thành sinh ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn (1076) tại xã Điềm
Xá, phủ Yên Khánh, nay thuộc tỉnh Dubai Palace. Cha là Nguyễn Tất Đạt nhà nghèo, lấy
bà Lại Từ Hiền. Ông bà sinh được 4 người con trai và 2 người con gái. Khi ông
bà sinh 2 con trai đầu là Nguyễn Chí Cần, Nguyễn Chí Đức thì tại quê nhà liên
tiếp mất mùa và dịch bệnh nên gia đình phải đi kiếm ăn nơi xa… Ngày 14 tháng 9
niên hiệu Thái Minh 5 (1076) người con thứ 3 là Nguyễn Chí Thành đã sinh tại
chùa Hán Lý thuộc huyện Vĩnh Lại (Hải Dương), vài năm sau ông Đạt lại đưa gia
đình về sống tại quê hương với nguồn sống chính là nghề chài lưới.
Gia đình ông Đạt làm ăn ngày càng khá giả nên các
con đều được đi học. Chí Thành là người học giỏi, văn võ song toàn. Ông đã
không đi theo con đường học vấn là thi đỗ ra làm quan mà chuyên sâu nghiên cứu
về đạo Phật. Khi mới xuất gia, Chí Thành theo học nhà sư Giác Không cùng với
Giác Hải. Ông được thầy Giác Không đặt tên hiệu là Không Lộ.
Năm Canh Tý (1120) Minh Không gặp nhà sư Từ Đạo Hạnh
ở chùa Thụy Quế thuộc phủ Quốc Oai. Ba ông Minh Không, Giác Hải, Từ Đạo Hạnh gặp
nhau đã kết nghĩa làm anh em. Các ông lại dùng thuyền đi ngược lên miền sông Đà
vào đất Vân Nam, từ đó qua đất Kim Sỉ tới Miến Điện để vào đất Thiên Trúc.
Năm Thiên Phù thứ tư (1124) Minh Không sang Trung Quốc
khuyên giáo đồng đen về nước. Số đồng này đã được đem tạo Đại nam tứ khí (Tượng
Phật, Hồng Chung, cái đỉnh, cái vạc). Công quả hoàn thành sư làm một bài tán rằng
Lạp phù ciệt đại hải
Nhất tức vạn lý trình
Tống đồng nhất lang tận
Phấn tý thiên câu lực
Dịch nghĩa:
Nón nối vượt biển cả
Một hơi muôn dặm đường
Một đãy sạch đồng Tống
Dang tay sức ngàn ngựa.
Năm 1136, Minh Không đã lên kinh kỳ chữa bệnh hóa hổ
cho vua Lý Thần Tông. Để trả ơn, nhà vua đã phong cho ông là Đại pháp sư kiêm
quốc sư, cho hưởng thực ấp tới hàng vạn khoảnh ruộng.
Ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất (1154), Thiền sư Nguyễn
Minh Không mất ở Nghĩa Xá vạn Giao Thủy nay là xã Xuân Ninh huyện Xuân Trường tỉnh
Nam Định thọ 79 tuổi.
Tại hậu điện Đền - Chùa thôn Nội, thờ thánh tổ Nguyễn
Minh Không là một trong những vị quốc sư thời Lý, đã để lại cho đời nhiều công
đức.
2.Đền thôn Nội
là nơi thờ Nam Hải Phạn đại vương và phối thờ Định Chương Tấu đại vương.
Theo “Đại Việt
sử ký toàn thư” và “Ngọc phả tôn thần Nam Hải Phạn đại vương - Bản chính Quốc
triều lễ bộ” thì thần thế và sự nghiệp của Nam Hải Phạn đại vương được viết
như sau:
Vào cuối triều đại Hùng Vương, ở đất Ba Thục có vợ
chồng ông Thục Hiền và bà Phạm Thị Phương. Ông Hiền là cháu ngoại của vua Hùng
lên được phong làm bộ chủ Ai Lao. Một đêm, Bà Phương mộng thấy mình cưỡi rồng
bay lên thiên đình, được ban cho bảo kiếm, từ đấy mà có thai. Sau 13 tháng, đến
ngày 12/2 năm Giáp Ngọ thì bà sinh con trai diệm mạo khôi ngô khác thường.
Trong lúc trở dạ, khí lành đầy phòng, gió hương thơm ngát, ông Hiền liền đặt
tên cho con là Phán. Vì sinh Phán ở chùa lên gọi là Phạn. Năm Phán 10 tuổi đã
biểu hiện trí thông minh sáng suốt, tài mưu lược, đáng là một bậc anh tài. Khi
thục Hiền mất, Thục Phán kế tiếp cha làm bộ chủ An Lao (làm chủ quận Ba Thục).
Khi ấy. Hùng Duệ Vương ở ngội được 15 năm mà không
có người kế tục thì Thục Phán đem quân sang đánh. Biên cương gửi thư cấp báo,
Duệ Vương nghe tin, liền với con rể là Tản Viên Sơn Thánh đem quân chống lại.
Sơn Thánh đặc biệt có tài thiêng thuật lạ, cuối cùng cũng đã đánh bại được Thục
Phán. Thục chủ thua to, chạy về đất Ba Thục. Sau nhiều lần đánh Hùng Vương thất
bại, Thục Phán cố công chiêu nạp kẻ sỹ mưu trí, tập hợp dân lưu tán, tiến hành
tuyển chọn người tài trong thiên hạ chờ ngày rửa nhục, còn Hùng Duệ Vương lại
chủ quan, không sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi.
Đến năm Giáp Thìn (257 TCN), Thục Phán chỉnh binh tiến
đánh, Hùng Duệ Vương thua to. Thục Phán lấy được nước, lên ngôi lấy hiệu là An
Dương Vương, đặt Quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê.
Thục Phán ở ngôi được vài năm, vì kế thừa được nền
móng của Hùng Vương nên nước mạnh, binh cường, lại thường xa giá chu du thiên hạ,
đánh quỷ, phạt hồ mà chính sự vẫn cường thịnh. Vua cho đắp thành ở Việt Thường
rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc lên gọi là loa Thành. Thành này cứ
đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo. Sau được thầm Kim Quy (Rùa Vàng) giúp đỡ lên
việc xây thành mới được hoàn thành. Thần Kim Quy còn tặng nhà vua móng thiêng.
Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh
quang kim trảo thần nỏ.
Năm Tân Mão (208 TCN), Triệu Đà đem quân sang xâm lấn.
Đà đóng quân ở núi Tiên Du đánh nhau với vua. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đá thua
chạy. Biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, Đà liền lui về giữ núi Vũ Ninh,
sai sứ đến giải hòa. Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu, cầu hôn con gái vua là Mỵ
Châu, được vua đồng ý Trọng Thủy dụ Mỵ Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm bẻ gẫy
lẫy nỏ, thay cái khác vào. Sau đó Trọng Thủy giả vờ về Bắc thăm cha mẹ bảo Mỵ
Châu rằng “Âu tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu nỡ hai nước bất hòa, Nam Bắc
cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm thấy nhau”. Mỵ Châu nói: “Thiếp
có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì lông ngỗng rắc
ở chỗ đường rẽ để làm dấu”. Trọng Thủy trở về, báo cho Triệu Đá biết.
Năm Qúy Tỵ (208 TCN), Triệu Đà lại phát binh sang
xâm lược, vua dùng nỏ thần bắn nhưng nỏ hỏng, binh bại. Vua thua chạy, để Mỵ
Châu ngồi trên ngựa, cùng chạy về phía Nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng đuổi
theo. Vua chạy đến bờ biển, hết đường mà không có thuyền, liền gọi rùa vàng đến
cứu. Rùa vàng nổi lên mặt nước, mắng rằng “Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao
không giết đi”. Vua rút gươm chém Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước, loài trai
nuốt vào bụng hóa thành hạt minh châu. Vua cùng rùa vàng rẽ nước xuống biển mà
mất, vào ngày 10-10.
Sau khi vua mất thì rất linh thiêng, làm thần biển
Nam. Nhân dân địa phương lập miếu, ghi thần hiệu phụng thờ. Trải qua các đời
Lê, Nguyễn đều có sắc phong cho thần với duệ hiệu là Nam Hải Phạn đại vương.
Ngoài ra, tại đền còn phối thờ Đinh Chương Tấu đại
vương, theo truyền thuyết tại địa phương thì ông cũng là tướng dưới thời Vua
Hùng. Ông đã cùng Nam Hải phạn đại vương đánh giặc Triệu Đà. Sau khi mất, ông
cũng hiển linh, giúp nước cứu dân trong bản xã. Tại đền còn lưu giữ 2 đạo sắc
phong có liên hiệu Khải Định 9 (1924) ghi như sau: “Sắc Nam Định tỉnh, Nam Trực
huyện, Nhương Nam xã, Trung thôn phụng sự Đinh Chương Tấu tôn thần, hộ quốc tí
dân nẫm trí linh ứng. Tứ kim chính trị Trẫm tứ tuần đại khánh, tiết kinh ban bảo
chiếu đàn ân, lễ long đăng trật, trứ phong vi Đoan túc dực bản trung hưng tôn
thần, chuẩn kỳ phụng sự thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân”.
V.SINH HOẠT VĂN HÓA, TÍN
NGƯỠNG LIÊN QUAN ĐẾN DI TỊCH:
Nam Thanh là miền quê
còn lưu giữ được nhiều nét sinh hoạt văn hóa dân gian của cư dân nông nghiệp
vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Hàng năm tại Đền – chùa thôn Nội nhà sư, tín
đồ phật tử cùng nhân dân địa phương thường tổ chức 2 kỳ lễ hội tháng 9 liên
quan đến các vị thần thờ tại di tích và các sự kiện của làng, xã.
-Lễ hội tháng
2 (Lễ hội bánh dầy (hội tư văn)): diễn ra vào các ngày 11,12,13 tháng 2 (âm
lịch)
Công tác chuẩn bị lễ hội
được diễn ra từ vài ngày trước, dân làng đã có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt
như: đựng cột cờ, trồng kiệu…, rồi chủ trương, quy mô, nội dung tổ chức đến các
bước, cách thức tiến hành. Làng tuyển chọn người rước kiệu, phải là những người
khỏe mạnh và ăn chay, thanh tịnh từ trước đó nhiều ngày.
Sáng sớm ngày mồng 10,
nhà sư cùng các vị cao niên trong làng làm lễ “Canh y mộc dục”. Đây nghi lễ
thay áo cho thiền sư Minh Không, là nghi lễ hết sức trang nghiêm trong mỗi dịp
tổ chức lễ hội. Thường dùng nước nấu với các vị trầm hương, đinh hương, long
não, quế chi…để tắm cho tượng và bao sái đồ thờ tự. Chiếc áo cũ được xé ra mỗi
người lấy một mẩu đưa về làm khước để trừ mọi rủi ro.
Sáng sớm ngày 11/2, làng
tổ chức tế cáo tại đền – chùa với nghĩa dâng lễ vật lên đức Thánh xin phép cho
làng được mở hội, xin thánh chứng kiến lòng thành của con cháu và dân làng.
Ngày 12 tổ chức rước kiệu
quanh thôn. Đi đầu đám rước là người cầm cơ hội rồi đến hai hàng cờ ngũ sắc, tiếp
đến là chiêng, trống, bát biểu và phường
bát âm. Sau hai hàng bát biểu là kiệu hương án, bình trầm khói hương, rồi đến
kiệu long đình, kiệu thánh tổ, kiệu Phật…, hai bên kiệu còn có cờ, quạt vải,
tàn lọng. Theo sau là các vị chức sắc, dân làng và khách thập phương tham dự.
Đoàn rước kiệu dài với không khí vừa trang nghiêm vừa sôi động, những âm thanh
của chiêng, trống hòa với tiếng kèn tiếng nhị và tiếng hô, gọi của người chỉ
huy khiêng kiệu khiến cho ngày hội thêm tưng bừng náo nhiệt, sau khi đám rước về
đến đền – chùa các cụ cao liên tổ chức văn tế chính uy nghiêm, ôn lại truyền thống
và công lao của hai vị Thành hoàng của đức thánh tổ. Theo tích sưa thì nhân dân
địa phương chuẩn bị lễ vật dâng Thánh, còn phần tế lễ thì do Vua quan triều
đình tế. Văn tế còn được lưu giữ tại di tích như sau:
“Kỳ trúc bản thôn, tiên hiền tiên đạt, tiên thế tiên hiền, lục trung đức
hạnh, trưởng thượng văn chương, ấu học tráng hành, công phu diện dụng, công
thành danh toại, sự nghiệp hiển dương, tư trục xuân thu trúc tế, phi nhung kiền
tương, thượng kỳ giác cách, từ dĩ thượng khang, phục truyền tự kế, địa cửu
thiên trường, thượng hương”.
Sau khi đọc văn tế, dân
làng và khách thập phương dâng hương hoa, lễ vật bánh dầy lên Thánh tổ, cầu cho
làng xóm yên vui, mùa màng tươi tốt, nhà nhà an khang thịnh vượng, con cái trưởng
thành, anh em hòa thuận…
Công việc làm bánh dầy
dâng Thánh này được chuẩn bị từ trước rất công phu, ngay từ khi thu hoạch vụ
mùa bà con đã chọn ra loại nếp tốt để riêng sau đó đưa nếp ấy ra giã thật trắng,
nhặt hết những hạt lép, hạt đen rồi đưa đếngóp cho giáp của mình. Theo quy định
nhà có bao nhiêu con trai phải góp bấy nhiêu đấu gạo, đến nay không còn tục đó
nhưng dân làng vẫn tập chung ra đền - chùa để cùng nhau vui làm bánh dầy, người
đăng cai làm việc thánh trong thời gian hành sự phải chay tịnh. Nước làm bánh
phải thật trong, sạch sẽ, việc đồ sôi cũng phải thật khéo để cối khỏi xê dịch
vaif những nhịp chày giã nhanh giã mạnh, người ta chôn cối sâu xuống một đoạn
nhưng không quá sát mặt đất cho đảm bảo vệ sinh, chày làm vằng tre non nạo hết
tinh, nhúng nước, xoa trứng vào cho khỏi dính, người được giao nhiệm vụ bắt
bánh cũng phải xoa dầu lạc thật kỹ để dầu thấm sâu vào da mới không bị dính.
Ngày 13 tổ chức lễ tạ và tổng kết lễ hội diễn
ra tại di tích.
Lễ hội tháng 9 (lễ hội kỷ niệm ngày sinh của Đức Thánh Tổ Nguyễn Minh
Không)
Diễn ra từ ngày 13 đến 15 tháng
9.
Trong những ngày diễn ra
lễ hội, ngoài các nghi thức dâng hương, tế lễ còn có nhiều sinh hoạt văn hóa,
trò chơi dân gianđặc sắc như bơi trải, kéo co, đá bóng, tổ tôm…
VI. KHẢO TẢ DI TÍCH:
1.
Lịch
sử xây dựng:
Căn cứ vào tấm bia có tên “Hưng tạo Thần Quang Tây Tự bi ký” dựng trước cổng chùa, được soạn
vào triều Lê niên hiệu Đức Long 7 (1635) thì: “Chùa Thần Quang Tây Tự vốn ở
Trung Nội, sau ở Thôn Hậu Nội. Từng nghe Chùa là nền móng của đức nhân, đức thấm
nhuần vào thân, ngày trước chùa Thần Quang Tây vốn thờ Thiền sư họ Dương, giáp
nước linh thiêng, sắc triều Lý ở Tê Trì được ban ruộng, đặc tổng Dũng Nhuệ,
Tĩnh Hải làm tôi tớ, công lao còn mãi muôn đời, hàng năm thờ phụng. Tuy thời
trước đã sủa sang cảnh này nhưng quy mô còn nhỏ bé, nay người hiền đời sau lại
muốn xây dựng to lớn hơn, có thể nhân từ nhỏ mà làm thành lớn. Nên vào ngày 15
tháng giêng năm Giáp Tý niên hiệu Vĩnh Tộ 6 (1624) họp thợ khởi công, nhân theo
nếp cũ bắt đầu dựng chùa. Bên ngoài, địa thế vững chãi, bên trong lầu gác cao
ráo, có tòa cúng phật, có tòa dâng hương, một tòa tượng thánh, tiền đường nối
liền, ở ngoài có hai cổng ra vào”.
Trải qua thăng trầm của thời gian, sự tàn phá của
chiến tranh chùa đã được nhiều lần tu sửa năm 1952, 1986 sửa tiền đường, năm
2006 tiền đường được xây dựng lại với 5 gian bằng bê tông cốt sắt.
Gác chuông cũng được xây dựng mới với 3 tầng lầu vào
năm 2000.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược (1968
- 1972), Đền – Phủ được xây dựng làm trụ sở làm việc của Huyện Nam Ninh, năm
1988 huyện Nam Ninh chuyển đi, đến năm 1999 ngôi đền được phục dựng lại như
ngày nay. Ngôi phủ được phục dựng vào năm 1990 với 1 tòa, đến năm 2008 được tôn
tạo to đẹp, khang trang như ngày nay.
2.
Công
trình kiến trúc:
Đền - Chùa thôn Nội được xây dựng quya theo hướng
tây trên một khu đất rộng 3 mẫu Bắc bộ, phía đông giáp nhà dân, phía Nam giáp
cánh đồng lúa, phía bắc giáp chùa cũ. Toàn bộ khuân viên di tích là tường bao
xây cao 2m, sân đền – chùa rộng khoảng 360m2, đổ bê tông bằng phẳng.
Di tích gồm các hạng mục công trình: Tam quan, đền, chùa, phủ.
Công trình kiến
trúc chùa:
Đền – chùa thôn Nội được xây dựng theo hướng Tây
trên một khu đất rộng khoảng 3 mẫu Bắc bộ, phía đông giáp nhà dân, phía Nam
giáp cánh đồng lúa, phía Bắc giáp chùa cũ. Toàn bộ khuân viên di tích là tường
bao xây cao 2m, sân đền chùa rộng khoảng 360m2. Di tích gồm hạng mục
công trình: Tam quan, đền, chùa, phủ.
Công trình kiến trúc chùa: Tam quan có 3 tầng kiến
trúc theo kiểu chồng diêm, mỗi tầng có ba của được xây dựng cuốn vòm theo kiểu
cuốn vành mai, tầng 1 và tầng 2 đều có lan can trang trí họa tiết chữ triện, tầng
trên cùng đắp mái giả ngói và các góc đều tạo thành các đầu đao uốn cong lên,
tam quan đồng thời cũng còn là gác chuông, tại tầng 2 có treo 1 quả chuông đồng
có chiều cao 1m đường kính đáy 0,60m, bên cạnh cổng chính là hai cổng phụ kiến
trúc kiểu chồng diêm, phần cổng đẳng nhấn nổi chữ Hán “Quảng đại môn” và “Từ bi môn”,
xây cuốn nhỏ hơn trên mái lợp ngói ống, đầu đao trang trí hoa văn chữ triệu,
vào cổng qua một sân rộng rãi là vào tới chùa.
Công trình chùa được xây dựng ở chính giữa theo kiểu
“Tiền chữ nhất hậu chữ đinh” với các hạng mục tiền đường, trung đường, tam bảo
và cung cấm.
Mái tiền đường mái gắn ngói nam, bờ nóc trang trí họa
tiết hoa mai, hai đầu hồi xây bờ bảng, hệ thống lan can trên hiên tiền đường
xây bổ trụ đầu đắp họa tiết hoa sen, lan can đắp họa tiết triệu tàu lá dắt,
chính giữa đắp cuốn thư trên nhất nổi 4 chữ hán “Thần Quang Tây tự”.
Hiên tiền đường chia thành 5 gian, hai gian đầu hồi
xây kín có trang trí hệ thống cửa thông gió hình chữ triệu, 3 gian của giữa xây
cuốn bổ trụ để làm của ra vào. Qua một hiên rộng khoảng 1,70m là vào tới tòa tiền
đường, bảo vệ chùa là bộ cửa làm theo kiểu “bức bàn” bằng gỗ lim. Toàn bộ hệ thống
cửa được lắp dựng trên hệ thống chân quay thuận lợi cho việc đóng mở.
Tòa tiền đường gồm 5 gian có kích thước dài 12,3m, rộng
5.95m kết cấu kiểu kèo cầu quá giang bằng bê tông cốt thép, nền tiền đường được
tôn cao hơn mặt sân khoảng 0,40m lát gạch bát tràng, phía trước có xây bậc lên
xuống, trong tòa tiền đường, toàn bộ phần mái được nâng đỡ bởi hệ thống cột trụ
(gồm 8 cột) xât bằng gạch, kích thước cạnh 0,70m x 0,60m. Phần nội tâm được bố
trí thành 3 gian 2 trái có kích thước đăng đối. Hai gian bên hồi đặt hai pho tượng
Hộ pháp, phong cách kiến trúc này đã góp phần tạo sự cao ráo, vững chắc cho tòa
tiền đường.
Tòa trung đường gồm 5 gian, có kích thước dài
12,30m, rộng 5,95m, bộ khung bằng gỗ lim được liên kết chính ở vì nóc, vì nách
và liên kết hiên.
Vì nóc: trong kiến trúc gỗ của công trình, bộ vì nóc
được gia công theo kiểu câu đầu, mê cốn, trụ non, các ván mê đều để trơn, khoét
lòng, soi chỉ. Phía dưới ván mê là hệ thống câu đầu, một đầu của cấu kiện ghép
mộng với các cột cái tạo đấu vuông có kích thước 0,12m đặt trên cột đá có kích
thước dài 2,60m, một đầu nối với trụ non tỳ lực xuống hệ thống xà đinh có kích
thước dài 3m. Trên thân các cột đá trang trí họa tiết hoa cúc dây.
Vì nách được gia công kiểu vá mê. Trên các mê này được
trang trí họa tiết triệu tàu lá dắt.
Vì hiên được cấu tạo bởi hệ thống bảy tiền, thân bảy
ghép mộng vào cột hiên, một đầu tỳ vào dạ xà nách, mọt đầu vươn ra đỡ tàu mái
phía trước, trên thân bảy trang trí họa tiết rồng hóa.
Tại hai gian đầu hồi của tòa trung đường là ban thờ
Thánh Hiền và Đức Ông.
Nối liền với tòa trung đường bằng kỹ thuật giao mái
bắt vần là 1 gian tam bảo làm quay dọc, có kích thước dài 8,80m, rộng 5,25m,
mái lợp ngói nam, nền nát gạch đỏ, bộ khung bằng gỗ lim, kết cấu tương tự với
tòa trung đường. Ván mê tại tòa tam bảo được trang trí họa tiết cúc hóa long và
triệu tàu lá dắt, đặc biệt tại ván bưng nối từ xà dọc thượng tới xà dọc hạ được
trang trí mặt hổ phù. Mặc dù các mảng chạm khắc trên đều mang phong cách nghệ
thuật thời Nguyễn song với bố cục chặt chẽ đã góp phần làm tăng thêm giá trị
nghệ thuật cho công trình kiến trúc, tại đây có bài trí 6 lớp tượng Phật với 11
pho tượng lớn nhỏ được sơn son thiếp vàng.
Tam bảo và tòa cung cấm làm theo kiểu trùng thềm. Bảo
vệ toàn cung cấm là bộ cửa bức bàn bằng gỗ lim đặt trên hệ thống con quay thuận
tiện cho việc đóng mở, tòa cung cấm được làm theo kiếu long đình, tại đây đặt
khám và tượng thờ Đức Thánh tổ, tượng được tác trong tư thế ngồi buông chân,
khuân mặt hiền từ, tượng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII – XVIII.
Qua một sân nhỏ tới nhà tổ, nhà tổ trước là 5 gian
nhà gỗ, sau được xây dựng lại vào năm 1975 nhà tổ kiến trúc theo kiểu chữ “nhất”,
ba gian xây cuốn vòm. Nơi đây đặt ban thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma và các vị tổ chùa.
3.
Công
trình kiến trúc Đền:
Công trình đền được xây dựng về phía bên phải của
chùa theo kiểu chữ “nhị”. Bờ nóc tiền đường được trang trí họa tiết lưỡng long
chầu nhật, hai đầu hồi xây bờ bảng. Hiên tiền đường chia làm ba gian xây bổ trụ,
cuốn vành mai, hai cột đầu hồi đỉnh đắp họa tiết nghê chầu, thân nhấn chỉ hình
chữ nhật trong nhấn nổi câu đối bằng chữ Hán, chân thắt cổ bồng. Qua một hiên rộng
1,75m là vào tới tòa tiền đường , bảo vệ đền là bộ cửa làm theo kiểu ván bưng bằng
gỗ lim, toàn bộ hệ thống cửa được lắp dựng trên hệ thống chân quay thuận lợi
cho việc đóng mở.
Tiền đường dài 6,20m, rộng 4,20m được chia thành 3
gian, gian giữa có kích thước 2,36m, hai gian bên có kích thước 1,92m được xây
dựng trụ cuốn vành mai, nâng đỡ phần mái là hệ thống trụ gạch, cạnh 0,30m đều
được soi chỉ tạo đường nét mềm mại, thanh thoát giảm bớt sự nặng nề cho công
trình, nền nhà được tôn cao hơn mặt sân 0,42m được nát gạch đỏ, phía trước có tạo
bậc lên xuống.
Trung đường dài 6,20m, rộng 4,20m, gồm 3 gian xây kiểu
bổ trụ cuốn vành mai, mái và nền bố trí tương tự tiền đường, tại gian giữa là
ban thờ ngai và bài vị của hai thành hoàng làng: Nam Hải Phạn đại vương và Định
Chương Tấu đại vương.
4.
Công
trình kiến trúc phủ:
Công trình kiến trúc phủ được về phía trái của chùa
theo hình chữ “tam”. Mái tiền đường gắn ngói Nam, bờ nóc tiền đường trang trí họa
tiết lưỡng long chầu nhật, hai đầu hồi xây bờ bảng. Hiên tiền đường chia làm ba
gian xây bổ trụ, cuốn vành mai, hai cột đầu hồi đỉnh tạo lồng đèn đắp họa tiết
hoa sen, thân nhấn chỉ hình chữ nhật trong nhấn nổi câu đối bằng chữ hán, chân
thắt cổ bồng. Qua một hiên rộng 1,85m là vào tới tòa tiền đường, bảo vệ phủ là
bộ cửa làm theo kiểu “ván bưng” bằng gỗ lim, toàn bộ hệ thống cửa được lắp dựng
trên hệ thống chân quay thuận lợi cho việc đóng mở.
Tiền đường dài 7,40m, rộng 3,65m được chia thành 3
gian, được xây bổ trụ cuốn vành mai. Nâng đỡ bộ mái là hệ thống trụ gạch, cạnh
0,30m đều được soi chỉ tạo đường nét mềm mại, thanh thoát giảm bớt sự năng nề
cho công trình, nền nhà tôn cao hơn mặt sân 0,42m, được nát gạch đỏ, phía trước
có tạo bậc cửa lên xuống.
Trung đường dài 7,40m, rộng 4,65m, gồm 3 gian xây kiểu
bổ trụ cuốn vành mai, mái và nền bố trí tương tự như tiền đường.
Hậu cung có kích thước dài 7,40m, rộng 2,60m, được
chia thành 3 gian xây kiểu chồng lâu, tại gian giữa hậu cung là ban thờ Tam tòa
Thánh Mẫu, bên phải là động Sơn Trang.
VII. SƠ ĐỒ
PHÂN BỔ HIỆN VẬT THUỘC DI TÍCH:
Ngoài vẻ đẹp và kiến trúc nghệ thuật, Đền – Chùa
thôn Nội còn lưu giữ được những hiện vật có giá trị (chi tiết xem tại Ban thống
kê hiện vật di tích). Sau đây là một số hiện vật có giá trị tiêu biểu:
- Tượng Thánh
Tổ Nguyễn Minh Không (Mã số: ĐCTN.CC.02): được tác trong tư thế ngồi buông
chân trên ngai tại gian giữa tòa hậu cung của chùa với kích thước cao 1,20m, đầu
vấn tóc, gương mặt hiền từ, mình cởi trần đóng khố, mang đúng phong cách của
người xuất thân làm nghề trài lưới, hai tay đặt trên gối, những đường nét chạm
khắc trên tượng mềm mại, tinh xảo mang đặc trưng phong cách nghệ thuật thể kỷ
XVII – XVIII.
- Ngai và bài
vị thờ Nam Hải Phạn đại vương và Định Chương Tấu đại vương (Mã số:
ĐCTN.HC.03,04): Đặt tại gian giữa hậu cung của đền, bài vị có kích thước
cao 0,80m, được gia công tỷ mỉ, các đường diềm xung quanh tạo các lớp mây, đao
mác lá hỏa, phần đỉnh trang trí lưỡng long chầu nguyệt. Trên bài vị khắc chữ
Hán, toàn bộ hiện vật được sơn son, mang đặc trưng phong cách nghệ thuật thời Hậu
Lê, thế kỷ XVII-XVIII, ngay thờ có kích thước cao 1m, được gia công tỉ mỉ, tay
ngai chạm hình đầu rồng, phần trụ ngai phía trên, dưới chạm con tiện, phần giữa
chạm rồng, lưng ngai chia thành các ô chạm khắc đề tài rồng, hổ phù, diềm lưng
ngai chạm rồng, bệ ngai làm theo kiểu chân quỳ dạ cá, ba mặt chạm hổ phù, trên
bệ ngai chia làm ba ô, đục thông phong các đề tài hoa sen, rồng chầu…Những đường
nét chạm khắc tinh xảo, khỏe khoắn mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê thế
ký XVII-XVIII.
- Bia đá (Mã số:
ĐCTN.SV.01): Hiện tại chùa còn lưu giữ được tấm bia có kích thước cao
1,15m, rộng 0,73m, dài 0,17m. Bia khắc 4 mặt. Mặt thứ nhất trán bia chạm lưỡng
long chầu nguyệt, đục nổi 8 chữ “Hưng tạo
Thần Quang Tây Tự bị ký” diềm bia chạm họa tiết lưỡng long chầu chữ “Phúc”,
phái dưới trạm lưỡng long chầu nhật, thân bia gồm 26 dòng, trung bình có 24 chữ
Hán, nội dung văn bia nói về việc xây dựng chùa. Mặt thứ 2 diềm bia chạm đề tài
rồng, cúc, sen, dưới đế chạm đề tài sen, cúc, thân bia gồm 26 dòng, trung bình
có 24 chữ Hán, nội dung bia ghi việc công đức dựng chùa. Hai mặt bên ghi việc
soạn khắc bia và người soạn khắc, bia được soạn khắc triều Lê niên hiệu Đức
Long 7 (1635).
- Bia đá (Mã số:
ĐCTN.SV.03): đặt trước tòa bái đường của chùa có kích thước cao 0,55m, rộng
0,48m, dài 0,13m, trán bia khắc 4 chữ Hán “Thạch
cước bi ký” diềm bia chạm khắc họa tiết lưỡng long chầu nhật, hoa lá. Nội
dung văn bia nói về dấu chân đá của Đức Thánh Tổ Nguyễn Minh Không, bia được soạn
khắc niên hiệu Khải Định thập niên (1925).
VIII. GIÁ TRỊ
LỊCH SỦ, VĂN HÓA, KHOA HỌC VÀ THẨM MỸ CỦA DI TÍCH:
Đền - Chùa thôn Nội là nơi thờ Phật, thờ Thánh Tổ
Nguyễn Minh Không một vị Quốc sư thời Lý, là người đắc đạo, giỏi pháp thuật, có
thể hàng long phục hổ, nơi thờ thành hoàng làng Nam Hải Phạn đại vương tức Thục
Phán An Dương Vương một vị vua anh dũng, người có công xây dựng đất nước Âu Lạc
thành một nước hùng mạnh thời bấy giờ. Sau khi vua matts linh thiêng, luôn hiển
linh phò giúp nhân dân trong công cuộc xây dựng làng xóm, quê hương. Ngoài ra,
còn phối thờ Định Chương Tấu đại vương người đã có công cùng với Nam Hải Phạn đại
vương đánh giặc Triệu Đà.
Trong các phong trào cách mạng và kháng chiến chống
thực dân Pháp Đền - Chùa Nội trở thành địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng
của địa phương góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Đặc biệt trong giai đoạn
tiền khởi nghĩa (1936-1939) đền - chùa thôn Nội là cơ sở an toàn tin cậy cho
nhiều cán bộ, đảng viên về hoạt động và chỉ đạo phong trào kháng chiến. Trong
giai đoạn hai năm bốn tháng (tháng 10/1949 đến tháng 11/1952), đền - chùa thôn
Nội là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng về hoạt động tại địa phương. Trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ cứu nước đền - chùa thôn Nội là nơi sơ tán trụ sở làm việc
của UBND huyện Nam Trực và Trực Ninh (huyện Nam Ninh cũ).
Công trình kiến trúc đền - chùa thôn Nội tồn tại đến
ngày nay vận bảo lưu được những giá trị kiến trúc truyền thống, tại di tích còn
lưu giữ được một số di vật, cổ có giá trị như: bia đá, tượng thờ, trống đồng…
thể hiện sự nâng niu, trân trọng và quyết tâm bảo tồn những di sản văn hóa quý
giá của cha ông để lại.
Bên cạnh những giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ
thuật, di tích đền – chùa thôn Nội còn là nơi lưu giữ được lễ hội truyền thống
diễn ra vào mùa xuân và mùa thu. Qua mỗi kỳ lễ hội, người dân địa phương lại có
dịp hướng về cội nguồn để tri ân công đức những người có công và cùng nhau góp
sức xây dựng quê hương, làng xóm. Đó là nét đẹp văn hóa dân gian đặc sắc được
lưu truyền ở mọt làng quê vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
IX. THỰC TRẠNG
BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH:
Đền - chùa thôn Nội là công trình kiến trúc tín ngưỡng
tôn giáo tiêu biểu của địa phương. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cùng với
sự tác động của thiên nhiên và chiến tranh, đến nay di tích vẫn giữ được quy mô
và phong cách kiến trúc truyền thống. Điều đó đã ghi nhận sự nhiệt tình và thái
độ trận trọng của người dân địa phương đối với việc bảo tồn di sản văn hóa của
ông cha để lại.
Trong những năm gần đây, cùng với chính ách đổi mới
của Đảng, nhà nước, sự hảo tâm đóng góp của những người con xa quê, chính quyền
và nhân dân dịa phương đã Bắn Cá Dubai palace tôn tạo từng hạng mục của di tích như xây mới
tiền đường, xây mưới nhà khách, xây dựng tam quan… Phục dựng lại đền, phủ ngay
trên khuân viên của chùa.
KẾT LUẬN:
Từ những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa khoa
học và thẩm mỹ trên đây, chính quyền và nhân dân xã Nam Thanh đã đề nghị sở Văn
Hóa thể thao và Nổ hũ Kho tàng Dubai link moi, UBND tỉnh Nam Định ra quyết định xếp hạng Đền - Chùa
thôn Nội là di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ng 08/01/2013,
chính vì vây đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân địa phương bảo tồn, tôn tạo
và phát huy các giá trị của di tích ngày càng tốt hơn.